Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

THỰC PHẨM CHỮA BỆNH VỀ THIẾU MÁU


Thiếu máu là một căn bệnh có liên quan đến tình trạng cơ thể có lượng tế bào máu đỏ hoặc huyết sắc tố (là thành phần chính của hồng huyết cầu, làm cho máu có màu đỏ) ít hơn so với mức bình thường.

Mật ong
Những người mắc bệnh thiếu máu sẽ có ít năng lượng để đáp ứng cho các hoạt động thông thường hàng ngày trong cuộc sống do suy giảm lượng ô-xy cung cấp cho các tế bào. Nguyên nhân chính gây ra bệnh thiếu máu là sự thiếu hụt chất sắt, vốn rất cần thiết cho việc tạo ra các huyết sắc tố.



Sắt là một loại khoáng chất vi lượng rất quan trọng trong cơ thể vì chúng được sử dụng để sản xuất ra các huyết sắc tố. Do đó, chúng ta cần phải tiêu thụ nhiều những thực phẩm giàu chất sắt. Tuy nhiên, phần lớn các loại thực phẩm tự nhiên đều không có đủ lượng sắt cần thiết cho nhu cầu của những người đang bị thiếu hụt chất sắt. Có hai loại chất sắt là heme iron và non-heme iron. Chất sắt heme được cơ thể hấp thu dễ dàng hơn và chỉ có trong thịt.



Đối với những người ăn chay, nguồn cung cấp chất sắt duy nhất có giá trị đối với họ là chất sắt non-heme, loại mà cơ thể rất khó hấp thu. Tuy nhiên, để giải quyết rắc rối này, những người ăn chay có thể tăng cường thêm những thực phẩm giàu vitamin C để trợ giúp cho cơ thể trong việc sử dụng chất sắt non-heme và làm tăng tỷ lệ hấp thu loại chất sắt này. Để chữa trị bệnh thiếu máu, hãy tập trung vào những thực phẩm được liệt kê dưới đây.


CÂY MƯỚP LÀM THUỐC

Mướp được nhân dân ta sử dụng làm thuốc từ lâu đời. Mướp có nhiều loài khác nhau.

Mướp sử dụng làm thuốc...
Mướp ta, hay mướp thường (Luffa cylindrica (L.) Roem.), mướp hương (Luffa acutangula Roxb.). Theo Đông y, các bộ phận của cây mướp, như lá mướp (ty qua diệp), dây mướp (ty qua đằng), xơ mướp (ty qua lạc) đều là những vị thuốc có thể sử dụng để trị nhiều bệnh khác nhau.

Lá mướp có vị ngọt, chua, mát, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, trừ đờm, chỉ khái, giải độc, chỉ huyết. Dùng trị ho cấp tính và mạn tính, nhiều đờm, đờm dính máu. Hằng ngày dùng 10 - 15g, sắc uống; hoặc lấy lá tươi, rửa sạch, thêm chút muối ăn, giã nát, vắt lấy nước uống, trị viêm họng, họng sưng đau. Còn có tác dụng trừ phù thũng, trị mụn nhọt sưng đỏ. Có thể lấy lá bánh tẻ, rửa sạch, giã nát, đắp lên mụn nhọt hoặc lên vết thương để tiêu viêm, tiêu sưng.

Quả mướp có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, hóa đàm, lương huyết, giải độc. Dùng quả non, khi quả ra được khoảng 20 ngày, hái về thái mỏng, sao vàng, sắc uống có tác dụng trừ đờm, trị ho, hen, khó thở.

Rễ mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, thanh trừ nội nhiệt, nhuận tràng, trị phế ung, viêm mũi, viêm xoang, ho, đau nửa đầu, viêm tuyến vú. Ngày 15-30g dưới dạng sao vàng, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần. Uống nhiều ngày tới khi các triệu chứng thuyên giảm.

Thân cây mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng hoạt huyết thông lạc, thanh nhiệt giải độc. Sau khi thu hái, đem phơi khô, cắt thành từng đoạn 3-5cm, sao vàng, nghiền thành bột mịn uống với nước sôi để nguội, ngày 2-3 lần, mỗi lần 8-12g, có tác dụng thông mũi, trị bệnh viêm mũi mạn tính, viêm cuốn mũi.

Gốc cây mướp, sau khi rửa sạch, cạo bỏ lớp vỏ bên ngoài, thái nhỏ, sao vàng, sắc uống có tác dụng tiêu viêm. Trị viêm xoang, viêm mũi, mũi ngứa, chảy nước mũi, nước mũi có mùi hôi, tanh.

Xơ mướp có vị ngọt tính bình, có tác dụng thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt, hóa đàm, lợi thủy, tiêu thũng. Có thể lấy những quả mướp chín, già, khô trên giàn; hoặc hái các quả mướp già, phơi khô hoặc sấy khô, bóc bỏ vỏ, bỏ hạt. Khi cần nhiều xơ mướp, có thể, sau khi thu hái các quả mướp già, bó lại thành bó, ngâm xuống nước vài ngày cho thịt mướp rữa ra, sau đó rửa sạch xơ, rồi đem phơi khô, sấy khô. Lấy xơ này, cắt thành từng đoạn 1 - 2cm, sao vàng, nghiền thành bột mịn, uống ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 10g, để thông kinh, hoạt lạc, trừ phong thấp, lợi tiểu, giải độc. Dùng trong các trường hợp đau tức sườn ngực, đau cơ.
Xơ mướp đem sao đen, sao tới khi toàn bộ phía ngoài có màu đen, bên trong vẫn còn màu vàng, tán thành bột mịn, uống với nước ấm, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 4 - 8g, có tác dụng cầm máu, giảm đau. Dùng trị trĩ ra máu, đại tiện ra máu, xuất huyết tử cung… Ngoài ra để thúc sởi chóng mọc, dùng xơ mướp 20g; kinh giới, bạch chỉ, kim ngân, mỗi thứ 12g; cỏ mần trầu 8g; cam thảo 4g. Sắc uống, ngày 1 thang chia 2 lần.

Ô MAI-VỊ THUỐC QUÝ,MÓN ĂN NGON

Ô mai có vị chua, tính ôn, vào các kinh can, tỳ, phế, đại tràng, thường dùng chữa ho, lỵ lâu ngày, khát nước, đại tiểu tiện ra máu, băng huyết, trị giun.

Ô mai chữa được nhiều bệnh
Các cơ sở Trung y Trung Quốc đã có kinh nghiệm chữa nhiều bệnh đạt hiệu quả tốt bằng những bài thuốc trong đó vị Ô mai là chủ yếu.

Ô mai chữa ra nhiều mồ hôi

Ô mai 30g, Hoàng kỳ 18g, Phòng phong 8g, Bạch truật 12g, Tiểu phù mạch 15g, Đảng sâm 15g. Sắc nước uống mỗi ngày một thang, liên tục 7 ngày. Bài thuốc số 2: Ô mai 30g, Hoàng cầm 9g, Chi tử 10g, Sài hồ 8g, Trạch tả 12g, Xa tiền tử 10g, Đương quy 5g, Sinh địa hoàng 20g, Cam thảo 6g.

Theo Trung y, nhiều mồ hôi chia làm 2 loại: Tự hãn (mồ hôi tự chảy ra, không phải do lao động, mặc nhiều áo, hoặc trời nóng) và đạo hãn (chảy mồ hôi khi ngủ). Có người vừa tự hãn vừa đạo hãn, phần lớn do người thể lực yếu, ốm dậy, người hư nhược, phế khí suy giảm, tân dịch hoá thành mồ hôi chảy ra hoặc do lao động quá sức, tà nhiệt tổn hại đến âm, gây ra âm hư hoả vượng làm tân dịch tiết ra, hoặc do tâm tư không thoải mái, can uất hoá hoả cũng làm hoả vượng tiết tâm dịch.

Chữa trị bằng Ô mai liễm phế, bình cam, sinh tân dịch, phối hợp các vị thuốc bổ phế khí, có tác dụng liễm hãn tốt.

Ô mai chữa trẻ em tiêu hoá kém.

Trẻ em tiêu hoá kém phần lớn do vị thận âm hư. Ô mai dưỡng âm, lại hoà vị sinh tân, phối hợp với Sinh địa hoàng tác dụng càng tăng, thêm Sao mạch nha tiêu thực hoà trung, kiện tỳ hoà vị, trẻ em tiêu hoá kém dùng bài thuốc này hiệu quả rất tốt.

Bài thuốc: Ô mai 10g, Sinh địa hoàng 15g, Sao mạch nha 20g. Sắc nước, lấy 200ml thêm đường cho vừa ngọt làm nước uống, mỗi lần cho trẻ uống 20 – 30ml, cứ 2 giờ uống một lần, mỗi ngày một thang, một liệu trình 6 ngày.

Ô mai chữa đái tháo nhạt.


Bài thuốc: Ô mai 30g, Sinh địa hoàng 30g, Sơn dược 12g, Sơn thù du 12g, Ích trí nhân 10g, Mẫu đơn bì 9g, Trạch tả 9g, Phục linh 9g, Hoàng bá 8g, Tri mẫu 9g, Câu kỷ tử 15g, Sa sâm 20g, Liên kiều 15g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 10g. Sắc uống, mỗi ngày một thang, uống 30 thang thì lượng nước uống và lượng nước tiểu trở lại bình thường.

Ô mai vị chua, sinh tân dịch, chỉ khát, đồng thời có tác dụng thu liễm súc niệu, nên chữa được đái tháo nhạt.

Ô mai làm tiêu vết sẹo.

Vị thuốc Ô mai dùng ngoài để làm mất vết sẹo sần sùi do phẫu thuật, bỏng, vết thương, ung nhọt khỏi rồi để lại.

Cách làm: Chọn Ô mai quả to, chín kỹ, bỏ hạt, sấy khô, tán mịn. Thêm khoảng 1/4 lượng bột lưu huỳnh, trộn đều. Lấy băng cao su cắt thành lỗ to bằng vết sẹo, dán lên da, để lộ vết sẹo ra ngoài. Thêm dấm vào bột thuốc, trộn làm thành dạng cao mềm, đắp lên vết sẹo dày khoảng 5mm, dùng 4 lớp vải gạc băng lại. Khi gạc khô thì lại rỏ thêm dấm cho ẩm. Cứ 3 ngày thay thuốc một lần, làm cho đến khi khỏi. Vết sẹo mới thì dễ lành hơn vết sẹo lâu ngày đã lão hoá. Không thấy có tác dụng phụ độc gì rõ rệt.

Ô mai trị vẩy nến.

Theo Trung y, trị vẩy nến cần phải thanh nhiệt giải độc, nhuyễn kiên, hoạt huyết lương huyết, khư phong. Bài thuốc như sau: Ô mai 60g, Sinh mẫu lệ 30g (sắc trước), Hồng hoa 15g, Tam lăng 10g, Nga truật 10g, Thổ phục linh 30g, Đại thanh diệp 20g, Sinh địa hoàng 30g, Mẫu đơn bì 15g, Xích thược 15g, Toàn yết 5g, Khổ sâm 20g. Sắc nước uống, mỗi ngày một thang. Liên tục uống 40 ngày thì da trở lại bình thường.

Ô mai chữa sa dạ con.

Lấy 20g Ô mai, sắc lấy nước, rửa mỗi ngày 2 lần, liên tục 7 ngày. Ô mai có tác dụng thu liễm cố sáp nên chữa sa dạ con đạt hiệu quả tốt.

Ô mai chữa sâu răng.

Bài thuốc: Ô mai 10g, Khổ sâm 8g, Hoa tiêu 6g, Bạch chỉ 5g, Tế tân 3g, Hoàng liên 5g. Sắc lấy nước, ngậm trong miệng 3 – 5 phút rồi nuốt. Cũng có thể dùng bông thấm nước thuốc nhét vào lỗ răng sâu.
Bài thuốc dùng Ô mai là chính, cùng hoa tiêu là các vị sát trùng; Hoàng liên, Khổ sâm tả hoả giải độc; Tế tân, bạch chỉ sơ phong tán hàn, đồng thời đưa các thuốc đi lên răng giảm đau. Toàn bài thuốc phối hợp sơ phong tán hàn, tả hoả giải độc, sát trùng giảm đau, chữa sâu răng hiệu nghiệm.

Ô mai trị mày đay.

Bài thuốc dùng Ô mai là chính, phối hợp với các vị khư phong, táo thấp lương huyết: Ô mai 15g, Thương truật 15g, Khổ sâm 10g, Bạch tiên bì 20g, Sài hồ 10g, Mẫu đơn bì 10g. Sắc uống, mỗi ngày một thang, liên tục 15 thang là hết các triệu chứng.

Củng cố kết quả điều trị bằng Ô mai và Sinh địa hoàng mỗi thứ 10g, hãm nước sôi uống thay chè, liên tục trong 3 tháng.

LỢI ÍCH TUYỆT VỜI TỪ QUẢ CÀ CHUA

Cà chua là loại thực phẩm phố biến được sử dụng trong các bữa ăn hàng ngày tuy nhiên lợi ích của nó thì không phải ai cũng hiểu rõ.

Cà chua chống ung thư...
Dưới đây là 5 công dụng tuyệt vời của quả cà chua đối với sức khỏe chúng ta:

1. Chống ung thư

Trong quả cà chua có chứa lycopene - một phytonutrient được cho là có công dụng chống ung thư rất tốt. Lycopene đã được chứng minh đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa ung thư đại trực tràng, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú, nội mạc tử cung, ung thư phổi và ung thư tuyến tụy. Nó cũng có tác dụng giúp ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Theo Tổ chức Thực phẩm quốc tếm cà chua và nước sốt cà chua hữu cơ cung cấp lượng lypcopene đáng kế cho cơ thể bạn.

2. Giàu Vitamin C

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, một ly sinh tố cà chua có thể cung cấp đủ lượng Vitamin C cho cơ thể bạn đến 58%. Vitamin này giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng, tăng hấp thụ sắt, duy trì sức khỏe các mô liên kết, cải thiện làn da bà còn giúp bạn giảm cân đáng kể (đối với những người thừa cân).

3. Dồi dào vitamin A

Cà chua cũng là nguồn thực phẩm dồi dào vitamin A, tốt cho làn da, mắt và hệ thống miễn địch được khỏe mạnh.

4. Chứa chất xơ

Trong quả cà chua cũng chứa rất nhiều chất xơ, giúp giữ cholesterol và lượng đường trong máuu được điều hòa và nằm trong tầm kiểm soát.

5. Giàu Vitamin K

Có thể bạn chưa biết nhưng cà chua là nguồn thực phẩm dồi dào Vitamin K – giúp duy trì sức mạnh của xương và đặc biệt tốt cho chị em phụ nữ lấy lại sức sau mỗi chu kỳ kinh nguyệt.

Có thể bạn chưa biết:

- Phytonutrient là dưỡng chất từ thực vật.

- Lycopene giúp cà chua và dưa hấu có màu đỏ.

- Cà chua có nguồn gốc ở Nam Mỹ.

- Đó là một loại trái cây.

- Theo số liệu thống kê năm 2008, mỗi năm có khoảng 130 triệu tấn cà chua được thu hoạch.

- Trung Quốc là nước sản xuất cà chua lớn nhất thế giới.

- Có khoảng 7.500 giống cà chua.

- Không nên lưu trữ cà chua trong tủ lạnh lâu ngày vì có thể nó sẽ bị mất hương vị và mất giá trị dinh dưỡng.

- Quả cà chua nặng nhất thế giới tính cho tới thời điểm này là gần 4kg.

NGỖNG CHỮA SUY NHƯỢC CƠ THỂ

Ngỗng còn gọi là nga nhục, là loại thủy cầm được nuôi rất nhiều ở nước ta. Từ thịt ngỗng chế biến nhiều món ăn ngon như ngỗng quay, ngỗng tẩm bột, ngỗng xào lăn, ngỗng nướng, ngỗng hấp... mỗi món có hương vị riêng và hấp dẫn. Thành phần dinh dưỡng: có protein, lipid, các hợp chất carbon, nguyên tố Ca, P, Fe, vitamin C. Các bộ phận của ngỗng như thịt ngỗng, mật, trứng, lông, tiết ngỗng đều được dùng làm thuốc trong Đông y.

Ngỗng quay
Theo Đông y, thịt ngỗng kiện tỳ hoà vị bổ hư, chỉ khát. Dùng cho các trường hợp gầy còm, mỏi mệt, suy nhược cơ thể, tiểu đường. Mật ngỗng thanh nhiệt giải độc; trứng ngỗng bổ trung ích khí; lông và màng da chữa bệnh ngoài da, vỏ trứng trị mụn nhọt…

Thịt ngỗng hầm hoàng kỳ, đẳng sâm tốt cho người tỳ vị hư nhược, kém ăn, mệt mỏi.

Các bài thuốc có dùng ngỗng

- Trị ung nhọt: lông ngỗng sao cháy 40g, phèn chua 80g. Nghiền nhỏ, dùng nước cơm làm thành viên. Mỗi lần 8g, uống với nước có cồn (rượu loãng). Hoặc lông ngỗng sao tồn tính 40g, hùng hoàng 12g, xuyên ô 6g, thảo ô 6g, sáp ong vừa đủ. Nghiền trộn lông ngỗng, hùng hoàng, xuyên ô, thảo ô thành bột mịn; trộn với sáp ong nóng chảy để làm viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, uống với rượu.

- Trị phong độc ngứa lở: khổ sâm 600g, lông ngỗng 320g. Lông ngỗng sao tồn tính, trộn với khổ sâm khô, tán nhỏ. Dùng nước cơm làm hồ, viên bằng hạt ngô (3g). Lấy chu sa làm áo. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 - 10g, uống với rượu loãng. Chữa phong ngứa nổi khắp mình, nổi đỏ, gãi ngứa khác thường, chân tay đau nhức, da dẻ nứt nẻ.

- Giảm đau do bị va đập: ống lông ngỗng có máu 7 cái, giun đất 7 con, nhũ hương 5g. Lông ngỗng sao cháy tồn tính, giun đất sao hoặc nướng giòn cùng với nhũ hương nghiền thành bột mịn, thêm ít sáp ong làm viên.

Ngày uống 2 lần (sáng, tối); mỗi lần uống 4g với rượu loãng.

- Trị hạch ở cổ (loa lịch): Lấy tất cả lông, màng da chân và miệng, để lên miếng ngói đang nung đỏ cho cháy. Lấy than nghiền nhỏ chia làm 10 phần, mỗi phần uống trong ngày, uống sau bữa ăn.

Một số món ăn - bài thuốc có ngỗng:

- Nước ép thịt ngỗng: Thịt ngỗng cả con, làm sạch bỏ ruột, hầm nấu ép lấy nước. Dùng cho bệnh nhân tiểu đường.

- Ngỗng hầm bổ khí: ngỗng 1 con, hoàng kỳ 30g, đẳng sâm 30g, sơn dược 30g. Ngỗng làm sạch bỏ ruột; cùng nấu dược liệu, thêm gia vị cho phù hợp. Dùng cho các trường hợp tỳ vị hư nhược, ăn kém, mệt mỏi.

- Ngỗng hầm song bổ thang: thịt ngỗng 1 con, thịt lợn nạc 200g, sơn dược 20g, sa sâm 20g, ngọc trúc 20g. Cho vào nồi, thêm nước và gia vị vừa ăn, đun nhỏ lửa hầm nhừ. Bổ khí, bổ âm, dùng trong trường hợp miệng họng khô, khát nước, mệt mỏi, thở gấp, ho suyễn, ăn kém, tiểu đường...

Kiêng kỵ: Người đang có thấp nhiệt (viêm nhiễm khuẩn cấp tính) không dùng.

HÀNH TÂY-"VUA CỦA CÁC LOẠI RAU"

Hành tây được gọi là “vua của các loại rau” vì hương vị cay nồng.

"Viagra trắng"
Hành rất giàu vitamin A, B, C và là một nguồn tiềm năng của acid folic, canxi, phốt pho, magiê, crom, sắt, chất xơ, kali và selen. Ngoài ra, chất quexetin trong loại rau củ này có tác dụng chống ôxy hoá rất mạnh. Vỏ hành tây chứa nhiều rutin, rất có lợi cho việc làm vững bền thành mạch, dự phòng tai biến xuất huyết não. Vì chứa chất phytonxit - một loại kháng sinh mạnh, vì thế, hành tây có thể dùng để trị các bệnh như ho, xơ cứng động mạch, cổ trướng, tiểu đường, giúp ngủ ngon, trừ giun đũa, chống đông máu, chống viêm, hạ huyết áp, giảm cholesterol, chống táo bón và đầy hơi, lợi tiểu và làm sạch máu, chữa ù tai, rụng tóc, tăng cường miễn dịch, chống loãng xương, phòng chống ung thư ruột kết… Đặc biệt, hành tây là một chất kích thích tình dục mạnh, được gọi là “viagra trắng” tự nhiên tốt nhất.

Hành tây là thực phẩm thông dụng trong bữa ăn của người Việt.

Xin giới thiệu một vài món ăn bổ dưỡng, tăng cường sinh lực:

Hành tây ngâm dấm: Hành tây tươi 1 củ khoảng 100g, bóc bỏ vỏ ngoài, thái dọc với bản rộng khoảng 2cm, ngâm với dấm khoảng 4 giờ. Khi ăn trộn thêm một chút gia vị và đường. Mỗi ngày ăn khoảng 50-100g, ăn liên tục trong 1-2 tháng sẽ có tác dụng giảm cholesterol, hỗ trợ điều trị bệnh động mạch vành, tắc mạch máu não, cơ tim hoại tử, xơ cứng động mạch, tăng huyết áp, đau đầu, viêm quanh vai, bí đại tiểu tiện, béo phì, các chứng bệnh thời kỳ tiền mãn kinh và yếu sinh lý ở nam giới.

Súp hành tây kiểu Pháp: 6 củ hành tây cỡ trung, lột vỏ, cắt hạt lựu. Lấy 3 muỗng bơ và phi hành tây bằng lửa vừa cho đến khi chín tới. Cho chỗ hành tây nói trên vào nồi nước dùng (nước dùng gà, bò hay heo đều được) đun sôi trong 30 phút. Múc súp ra bát, rắc phô-mai bào lên trên và ăn nóng với bánh mỳ nướng. Món ăn này giúp thông mạch, tăng cường sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe tình dục cho cả nam và nữ.

Tôm xào đậu và hành tây: 200g tôm tươi bóc vỏ, bỏ đầu, ướp với gia vị khoảng 10 phút. 100g đậu Hà Lan làm sạch. 1 củ hành tây thái miếng vuông quân cờ. Phi thơm tỏi, xào nhanh hành tây và trút ra đĩa, sau đó xào tôm cho chín tới thì cho đậu Hà Lan vào xào. Nêm chút dầu hào cho vừa miệng. Khi thấy đậu chín tới thì đổ hành vào, đảo qua rồi bày ra đĩa. Dùng nóng với cơm. Tôm, hành tây và đậu Hà Lan đều là những thực phẩm bổ dưỡng, tốt cho hệ tuần hoàn và sinh sản.

Cật heo trộn hành tây: 2 quả cật heo làm sạch, bổ đôi (tốt nhất là không bỏ túi khai trong lòng quả cật), khía vẩy rồng rồi cắt thành miếng bằng 2 ngón tay. Đun sôi một nước với ít muối và rượu trắng, rồi nhúng cật đến khi thấy các vết khứa nở ra thì vớt ra, để ráo. Hành tây 1 củ cắt mỏng, xào với tỏi phi thơm cho chín vừa, nêm chút muối, đường, dầu hào, rồi phi tỏi trong chảo cho thơm rồi nêm dầu hào. Trộn hành với cật cho đều, ăn nóng. Đây được xem là một trong những món ăn hàng đầu tăng cường “bản lĩnh đàn ông”, cải thiện chất lượng và số lượng tinh trùng, giúp điều trị bệnh bất lực ở nam giới.

HẾN-THỰC PHẨM TỐT CHO ĐẤNG MÀY RÂU

Hến có tên khác: Nghiễn nhục. Trong 100g thịt hến có 12,77g protid, 13,9 mg chất sắt, 0,25 mg đồng; nhiều vitamin B12, nhiều acid omega-3, ít cholesterol nên thích hợp với người thiếu máu và người bị bệnh tim mạch, đặc biệt còn có tác dụng chữa di tinh.

Hến có tác dụng chữa di tinh
Hến có tên khác: Nghiễn nhục. Trong 100g thịt hến có 12,77g protid, 13,9 mg chất sắt, 0,25 mg đồng; nhiều vitamin B12, nhiều acid omega-3, ít cholesterol nên thích hợp với người thiếu máu và người bị bệnh tim mạch, đặc biệt còn có tác dụng chữa di tinh.

Theo Đông y, thịt hến vị ngọt mặn, tính hàn, không độc, có tác dụng hoạt tràng, thông khí, mát gan, thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu. Vỏ hến (nghiễn xác): có vị mặn, tính ấm, không độc, có tác dụng cố tinh, làm se, long đờm, chống nôn.

Cơm hến.
Theo dân gian: chọn hến tươi mẩy, ngâm trong nước gạo cho nhả hết nhớt, luộc chín, lấy phần thịt, xay nhỏ, nấu với nước luộc hến và gạo thành cháo cho trẻ ăn rất tốt. Ngày ăn 1 lần, mỗi lần dùng 20 - 50g thịt hến.

Một số thực đơn tốt cho quý ông

Chữa dương nuy, ít tinh: Thịt hến 300g, lá hẹ 100g, dầu ăn 50ml, gia vị vừa đủ.

Hến luộc lấy phần thịt, lá hẹ rửa sạch thái khúc. Đổ dầu vào chảo, đun nóng, cho hến vào thêm gia vị, xào cho săn, cho lá hẹ vào, đảo đều với hến khoảng 5 phút, bắc ra ăn nóng.

Chứng hay đi tiểu đêm: Thịt hến 50g, thịt lợn nạc 100g. Tất cả ninh nhừ, thêm muối vừa đủ. Ăn trong ngày.

Chữa di tinh, đái đục
: Vỏ hến nung, hoàng bá sao, liều lượng bằng nhau. Tán bột mịn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10 - 15g.

Món ăn bài thuốc từ hến

Canh hến nấu bầu

Hến sông 2 - 3 kg, bầu sao hay bầu trắng 1 - 2 quả non, mỡ, mắm, muối, hành, thì là và gia vị vừa đủ. Hến ngâm trong nước sạch 3 - 4 giờ, đãi sạch đất cát; luộc hến bằng nước lạnh, khi nước sôi, đảo đều đến khi các con hến đều mở miệng thì tắt bếp; gạn lấy nước luộc hến; đãi lấy thịt để riêng. Đun nước luộc hến đến sôi, thả bầu đã băm hoặc thái chỉ vào đến khi miếng bầu trong, hết đục (hơi sủi tăm) cho hành và thì là thái khúc vào. Đun sôi mỡ, thả hành thái vào, đến khi có mùi thơm (phi hành) thì cho thịt hến vào, cho mắm muối gia vị vừa đủ, đảo đều đến khi thịt hến săn lại. Hến xào để riêng hoặc cho vào canh trên. Tác dụng bồi bổ sức khỏe, thanh nhiệt, giải khát, trừ phiền.

Các món xào

Hến xào su hào, củ cải hoặc rau bí. Bí đỏ thường mọc vào mùa hè, nên hến xào rau bí vừa thể hiện chất dân gian vừa có tác dụng thanh nhiệt, giải khát trừ phiền.

Hến xào rau bí

Hến được làm theo các công đoạn như canh hến nhưng vì làm món xào không cần nhiều nước nên cho ít nước khi luộc hến. Rau bí đỏ (ngọn và lá non): ngọn non và cuống lá được tước bỏ phần xơ, vò nát lá, rửa sạch, thái đoạn 3 - 4 cm. Cho dầu vào chảo, đun nóng, cho hành, tỏi vào, đảo đều cho có mùi thơm; cho rau bí vào, đảo đều, thêm mắm, muối và gia vị, đun rau bí chín kỹ thì cho hến xào vào, thêm ít tỏi đã đập nát, đảo đều.

Hến xào rau bí là món ăn ngon, bổ, thanh nhiệt, giải khát, trừ phiền nhiệt, thích hợp với nhiều người.

Hến xào xúc bánh đa

Cứ 300g thịt hến cần thêm 50g vừng rang giã nát; 100g lạc rang, bỏ vỏ, giã nát; 1 củ hành tây bỏ vỏ già thái mỏng; 20g gừng tươi giã nát,;1 trái khế chua gọt mép quả, thái sợi; tỏi lý sơn 1 củ đập nát; gia vị, dầu ăn, thìa là 1 - 2 mớ, rửa sạch, thái đoạn; rau thơm vừa đủ. Bánh đa nướng 5 - 10 cái.

Qua các công đoạn

Ngâm rửa hến, luộc, nước luộc để riêng, đãi lấy thịt. Thịt hến cần ướp nước mắm, gia vị cho kỹ. Dùng dầu ăn hay mỡ lợn xào thịt hến với tỏi, hành tây và gia vị vừa đủ. Khi hành tây chín, cho thìa là vào đảo đều, bắc ra, để hơi nguội, trộn với vừng, lạc, khế và gừng thái nhỏ; hoặc xúc ra đĩa, rắc vừng, lạc, gừng, khế và rau thơm lên trên. Xúc hến sào rải đều lên bánh đa, kẹp thêm 1 chiếc bánh lên phía trên, chấm với nước mắm tiêu có gia vị.

Sau khi thưởng thức đặc sản hến xào xúc bánh đa, có thêm chén (bát) cháo hến thật là tuyệt vời. Cháo hến ngon ngọt nhờ vào nước luộc hến, vị đậm đà và thơm ngậy của hến xào. Sau khi ăn xong, người nào cũng toát mồ hôi, người nhẹ nhàng khoan khoái.

GÀ ÁC(GÀ NGŨ TRẢO)-ĐẠI BỔ KHÍ HUYẾT

Gà ác chân có 5 ngón nên còn gọi là gà ngũ trảo. Gà ác nhỏ con, lông trắng nhưng mỏ, mắt, da thịt và xương đều đen. Thịt gà ác còn chứa các acid amin cần thiết cho cơ thể gồm lysine, methionine, histidine nên xưa được gọi là “gà thuốc”. Hàm lượng chất dinh dưỡng trong gà ác cao hơn nhiều so với các loại thịt khác. Sau đây là hai món ăn từ gà ác vừa ăn ngon vừa làm thuốc mạnh tỳ vị bổ dưỡng cơ thể.

Gà ác rất giàu chất dinh dưỡng
Gà ác hầm tam thất: Thịt gà ác và trứng gà thơm ngon, máu gà ác đỏ hơn máu gà thường và có nhiều lysin.Thịt có tính bổ dưỡng và lành, dùng cho người suy nhược dưỡng bệnh, sản phụ sau khi đẻ. Tam thất vị ngọt, đắng, tính ôn, đi vào 2 kinh can và vị. Có tác dụng hành ứ tiêu thũng trị xuất huyết hoặc bị đòn tổn thương. Rễ tam thất hóa ứ hành huyết tốt .Tam thất là vị thuốc bổ quý, không kém gì nhân sâm nên còn có tên là “kim bất hoán” (vàng không đổi). Kết hợp 2 vị thuốc bổ này vào 1 món ăn thật quý. Người ta còn kết hợp gà ác hấp lá dâu, cả 2 đều bổ âm hoặc gà ác tiềm thuốc bắc như: hoài sơn, sinh địa, táo tàu, củ sâm, có tác dụng đại bổ khí huyết.

Gà ác chưng ngũ vị: Nguyên liệu gồm gà ác, hạt sen, táo, củ mài hay đậu ván trắng, nấm mèo, miến, nước dừa. Các món làm sạch, xào sơ rồi nhồi vào bụng gà hấp chín. Nếu dùng đậu ván trắng thì phải nấu nhừ hạt đậu. Công dụng: gà ác có tính bổ dưỡng và lành, nó là nguồn protein rất tốt, không gây dị ứng dù với những người nhạy cảm. Hạt sen tác dụng vào các kinh tâm, tỳ, thận, là thuốc dưỡng tâm, bổ tỳ, cố tinh, dùng để trị mất ngủ, suy nhược cơ thể. Đại táo có vị ngọt, tính ôn đi vào hai kinh tỳ vị, có tác dụng bổ dưỡng, sinh tân dịch, ích khí, an thần, tiêu viêm, điều hòa doanh vệ, hòa giải các vị thuốc khác. Củ mài còn có tên là hoài sơn, vị ngọt, nhạt tính bình, đi vào các kinh tì, vị, phế, thận, có tính thanh nhiệt bổ hư, ích thuận sinh tân dịch, chỉ khát và giải độc. Đậu ván trắng có vị ngọt nhạt, tính âm, đi vào 2 kinh tì, vị, có tác dụng bổ tỳ, vị, sinh tân dịch, giải nhiệt, hòa trung, chỉ tả. Dùng trị cảm nắng, miệng khát, nôn mửa, biếng ăn, giải độc.

NHỮNG LỢI ÍCH VÀNG TỪ SỮA CHUA

Sữa chua ăn luôn được các chuyên gia dinh dưỡng khuyên sử dụng hàng ngày bởi 5 lợi ích vàng dưới đây.

Sữa chua chứa nhiều canxi,vitamin D
1. Xương chắc khỏe

Sữa chua đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ khung xương chắn chắn và dẻo dai bởi thành phần chứa nhiều canxi, vitamin D. Không những thế, chỉ một hũ sữa chua khoảng 100g cũng đủ lượng vi chất như kẽm, đạm và sắt giúp cơ thể luôn dẻo dai năng động.

2. Ngon miệng

Bên cạnh việc cung cấp các dưỡng chất cho cơ thể, sữa chua ăn còn có tác dụng kích thích cảm giác thèm ăn, ăn nhiều hơn và ăn ngon miệng hơn, đồng thời có thể chống táo bón. Sữa chua dễ tiêu hóa nên rất phù hợp với người biếng ăn.

3. Điều trị tiêu chảy

Đối với người bị tiêu chảy, cho ăn sữa chua có bổ sung lợi khuẩn Probiotics sẽ có tác dụng phòng và điều trị tiêu chảy là nhờ cơ chế bổ sung hàng tỷ các lợi khuẩn giúp lập lại cân bằng của hệ vi khuẩn đường ruột vốn bị tổn thương do sự hoạt động mạnh của vi khuẩn có hại.

4. Giảm rối loạn tiêu hóa

Sữa chua là liệu pháp đơn giản để cân bằng vi khuẩn đường ruột sau khi sử dụng liệu pháp kháng sinh. Bởi trong khi sử dụng kháng sinh để tiêu diệt các vi khuẩn có hại thì nó cũng tiêu diệt cả các vi khuẩn có lợi, đây là cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới rối loạn tiêu hóa. Trong trường hợp này sữa chua rất có hiệu quả trong việc lập lại cân bằng hệ vi khuẩn trong ruột. Vì vậy khi sử dụng kháng sinh, ăn sữa chua sẽ rất có ích.

5. Tăng cường miễn dịch

Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng 70% các tế bào miễn dịch của cơ thể được sản sinh trong đường ruột. Probiotics có trong sữa chua cung cấp vào đường ruột hàng tỷ lợi khuẩn, đánh bại các hại khuẩn giúp hệ tiêu hóa của chúng ta mạnh khỏe và tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thể.

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

CHỮA BỆNH BẰNG CÁC LOẠI TRÀ DƯỢC

Trà ẩm phòng chữa bệnh lão niên ho suyên mạn tính, khí cấp, tức ngực.

Các loại trà chữa được bệnh
1. Trà ẩm phòng chữa bệnh lão niên ho suyên mạn tính, khí cấp, tức ngực

- Các vị:

Ngũ vị tử 4g

Nhân sâm 4g

Tô ngạnh 3g

Một ít đường trắng, lượng vừa ăn.

- Cách dùng:

Nhân sâm thái lát mỏng, Tô ngạnh cắt vụn, hai vị này cùng với Ngũ vị tử, dùng 200ml nước sôi “già” hãm trong bình bảo ôn, đậy kín nắp, khoảng 15 phút, cho đường trắng vào, khuấy đều, uống dần. Pha hãm 2 – 3 lần nước sôi “già”, uống trong ngày. Mỗi ngày 1 thang.

- Tác dụng:

Chữa lão niên ho suyễn mạn tính, động là khí cấp, ngực tức khó chịu, nhiều đờm trắng đặc dính, rêu lưỡi trắng…

- Kiêng kỵ:

Người béo phì, đàm thấp thịnh không dùng.

2. Trà chỉ khái suyễn

- Các vị:

Xuyên bối mẫu 15g

Tề thái (cả cây) 15g

- Cách dùng:

Hai vị sao vàng tán bột, mỗi lần 3g, hãm 2 – 3 lần bằng nước sôi già 5 – 10 phút, uống thay trà. Ngày 1 thang.

- Tác dụng:

Chữa ho, đờm suyễn lâu ngày (khó thở, tả phế hoả, lợi thuỷ, tiêu thũng, trừ dám giảm suyễn, giảm ho, cầm máu), chữa bệnh tràn dịch màng phổi, viêm phổi, viêm chi khí quản cấp mạn tính.

3. Trà Linh chi bán hạ hậu phác

- Nguồn: “Thực vật Trung dược dư tiện phương”

Linh chi (màu nấm nâu đỏ) 6g

Lá Tía tô 5g

Hậu phác 3g

Phục linh 9g

Bán hạ 5g

Đường phèn, lượng vừa ăn.

- Cách dùng:

Dùng 200ml nước sôi “già” hãm 5 vị dược (bỏ vào trong túi vải thắt chặt miệng túi) khoảng 10 phút, cho ít đường phèn vào khuấy đều, uống từng ngụm nhỏ.

Trường hợp có hen suyễn phát tác thì uống luôn một lần 1/3 lượng nước dược đã hãm, đợi khi cơn hen huyễn được hoãn giải, chia lượng nước dược còn lại ra làm 2 – 3 phần, uống tiếp.

Sử dụng phương thuốc này cho tới khi hen suyễn hoàn toàn “biến mất” thì dừng lại, không uống nữa.

- Tác dụng:

Chữa bệnh hen suyễn do quá nhậy cảm và hen suyễn viêm phế quản.

- Kiêng kỵ:

Người hen suyễn nhiệt đàm thì không dùng.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

CÁC LOẠI THỰC PHẨM CHO ĐÀN ÔNG

Sau nhiều năm thử nghiệm với 47.000 người, các nhà khoa học tại Viện đại học Harvard (Mỹ) đã công bố năm loại thực phẩm dành cho đàn ông.

Sò cung cấp chất kẽm
Sau nhiều năm thử nghiệm với 47.000 người, các nhà khoa học tại Viện đại học Harvard (Mỹ) đã công bố năm loại thực phẩm dành cho đàn ông.

CÀ CHUA

Đàn ông ăn nhiều Cà chua sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Chất lycopen trong Cà chua sẽ được hấp thụ tốt khi đem nấu với dầu thực vật.

CẢI

Các loại rau Cải có khả năng ngăn ngừa bệnh ung thư bàng quang. Những người ăn rau cải hằng ngày, tỷ lệ mắc bệnh giảm 50% so với những người ít ăn hơn.

LẠC

Ăn lạc (đậu phụng) thường xuyên có khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Lạc làm giảm chất cholesterol và chất béo trong máu - những chất có thể gây chết người.

DƯA HẤU

Những loại thực phẩm giàu kali sẽ khống chế nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp và đứt mạch máu. Dưa hấu có chứa nhiều kali và chất khoáng khác, so với Chuối, Cam thì hàm lượng kali trong Dưa hấu là nhiều nhất.



Các loại thủy sản như sò, nghêu, ốc, hến, tôm, cua, ghẹ, mực, cá cung cấp chất kẽm để giúp hệ sinh dục hoạt động bình thường. Ăn ba con sò trong một ngày là đủ lượng kẽm và có thể bảo đảm đầy đủ testosterol là “bản lĩnh của đàn ông thời đại”!

MÍT VÀ MỘT SỐ BÀI THUỐC

Cây mít được trồng phổ biến khắp nước ta, có rất nhiều loại như mít mật, mít dai, mít tố nữ (đặc sản miền Nam), ngoài giá trị dinh dưỡng, nhiều bộ phận của cây mít còn là vị thuốc.

Nhiều bộ phận của cây mít còn là vị thuốc
Cây mít được trồng phổ biến khắp nước ta, có rất nhiều loại như mít mật, mít dai, mít tố nữ (đặc sản miền Nam), ngoài giá trị dinhdưỡng, nhiều bộ phận của cây mít còn là vị thuốc.

Về giá trị dinh dưỡng, trong thịt múi mít chín có protein 0,6-1,5% (tùy loại mít), glucid 11-14% (bao gồm nhiều đường đơn như fructose, glucose, cơ thể dễ hấp thụ), caroten, vitamin C, B2… và các chất khoáng như sắt, canxi, phospho. Hạt mít có thể phơi khô làm lương thực dự trữ, chứa tới 70% tinh bột, 5,2% protein, 0,62% lipid, 1,4% các chất khoáng. Lá mít dày, hình bầu dục, dài 7-15cm. Khi dùng làm thuốc, người ta thường dùng lá tươi.

Theo y học cổ truyền mít có vị ngọt, khí thơm, tính không độc, có tác dụng chỉ khát, ích khí, giải say rượu…

Dưới đây là một số bài thuốc

Bài 1: Sản phụ sau khi sinh nếu ít sữa, dùng lá mít tươi (30-40g/ngày) nấu nước uống giúp tiết ra sữa hoặc tăng tiết sữa. Có thể lấy quả mít non gọt vỏ gai, thái lát, đem xào với thịt lợn nạc, nêm thêm gia vị, dùng ăn với cơm. Bài thuốc có tác dụng bổ tỳ, hòa can, tăng và thông sữa, thích hợp cho phụ nữ sau sinh bị ốm yếu, ăn kém, ít sữa. Mỗi liệu trình 3-5 ngày.

Bài 2: Lấy 30g lá mít vàng, rửa sạch, phơi cho thật khô rồi đốt cháy thành than, trộn với mật ong, bôi vào chỗ tưa lưỡi 2 lần trong ngày, sáng, tối trước khi đi ngủ. Bài thuốc trên có tác dụng chữa tưa lưỡi cho trẻ em.

Bài 3: Lấy khoảng 40g lá mít tươi, rửa sạch giã nát, đắp lên mụn nhọt đang sưng, sẽ làm giảm sưng đau.

Bài 4: Mít chín 30 múi, đường trắng 300g, chanh tươi 1 quả. Chọn mít dai vừa chín, múi to thịt dày, loại bỏ hạt, thái miếng vuông. Cho đường vào nồi cùng với 300ml nước, đun sôi, cho mít vào đảo đều. Cho nhỏ lửa lại chỉ để sôi lăn tăn, khi mít chín trong, nước đường hơi sánh lại là được. Để mít nguội, đem ướp lạnh. Lúc ăn, lấy mít vào cốc, vắt chanh vào nước đường còn lại, khuấy đều, tưới lên mít, ăn mát lạnh, dùng sau bữa ăn. Bài thuốc trên có tác dụng giải rượu.

Ngoài ra, vỏ cây mít còn được dùng làm thuốc an thần, trị tăng huyết áp. Dùng lá và vỏ mít mỗi thứ 30g, nấu với 300ml nước còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày. Mỗi liệu trình 5-7 ngày.

LỢI ÍCH CỦA QUẢ NHO

Trong các loại hoa quả, nho là loại quả nên tích cực ăn nhiều khi trời chuyển sang thu, đặc biệt là với phụ nữ, vừa giúp cơ thể loại bỏ mệt mỏi vừa thoải loại độc tố từ bên trong.


Nho giúp cơ thể loại bỏ mệt mỏi vừa thải loại độc tố từ bên trong
Trong các loại hoa quả, nho là loại quả nên tích cực ăn nhiều khi trời chuyển sang thu, đặc biệt là với phụ nữ, vừa giúp cơ thể loại bỏ mệt mỏi vừa thoải loại độc tố từ bên trong.

Khi cơ thể vừa trải qua một mùa hè nắng gắt, nóng và ấm, đã tích tụ lượng lớn các độc tố, bên trong người cũng rất nóng, dẫn đến mệt mỏi, uể oải. Chính vì vậy, nho là loại hoa quả lý tưởng nên ăn nhiều vào đầu thu, có tác dụng lợi tiểu, nếu biết cách ăn còn giúp thải sạch độc tố, làm mát cơ thể.

Trong quả nho có chứa loại đường cơ thể rất dễ hấp thụ, vì vậy ăn nhiều nho có thể giúp giảm triệu chứng lượng đường trong máu thấp.

Nho còn chứa flavonoid, là một chất chống oxy hóa mạnh, chống lão hóa hiệu quả. Ngoài ra, nho là thực phẩm chống ung thư rất tốt, vì vậy tất cả mọi người nên ăn nhiều loại quả này, mà đặc biệt là phụ nữ, nho còn giúp trẻ lâu hơn.

Có rất nhiều loại nho: Nho đỏ, xanh, đen, tím….và mỗi một màu sắc khác nhau đều có đặc điểm dinh dưỡng riêng.

- Nho tím rất giàu anthocyanin – chất được vì như mỹ phẩm thiên nhiên, chống lại quá trình lão hóa đến sớm.

- Nho đen lại đặc biệt tốt cho mái tóc, mang đến mái tóc đen nhánh và mượt mà.

- Nho đỏ có chứa các enzyme có thể làm mềm mạch máu, thúc đẩy tuần hoàn máu, ngăn ngừa huyết khối, rất có lợi cho bệnh nhân tim mạch.

- Nho xanh lại có tác dụng làm mát cơ thể, giải nhiệt.

- Nho trắng lại phù hợp cho những ai có bệnh ho, bệnh về đường hô hấp, cho những quý ông nghiện thuốc lá…

Ăn nho không nên bỏ vỏ nho, hạt nho, đây là bí quyết các nhà dinh dưỡng học khuyên bạn, vì ngay cả trong vỏ nho cũng tập trung rất nhiều thành phần dinh dưỡng.

Khi cơ thể cảm thấy chán chường, mệt nhọc, hãy uống 1 cốc nước ép nho cả vỏ bạn sẽ thấy tâm trạng mình thay đổi.

CÀ CUỐNG

Ăn bánh cuốn mà không có cà cuống thì thật “chán mớ đời”. Bánh cuốn Thanh Trì mỏng, dai, ngon và đặc biệt là có mùi cà cuống thơm phức.
Cà cuống
Nhớ hồi còn nhỏ, đứng giữa sân nhà lộng gió trời, gặp hôm trở gió có những tơ trắng lững lờ từ tít tắp nơi nào về, ấy thế là hôm đó thế nào cũng có cà cuống bay về và có cơ may bắt được cà cuống mà nướng lên. Mới nghĩ đến đó đã thèm rỏ dãi.

Vậy cà cuống là con gì, hình thù thế nào?

Cà Cuống có tên khoa học là Lethocerus indicus (Lepeteier et Serville), thuộc họ Cà cuống Belostomatidae. Pháp gọi là Belostome.

Chỉ có Cà cuống đực mới có tuyến thơm (bọng cay). Tuyến này tiết ra pheromon để dẫn dụ cá thể cái trong mùa giao hoan chứ không phải là ”Bộ phận tự vệ” như trong sách đã ghi. Chất dầu thơm là 1 este của axit axetic. Hiện nay người ta đã tổng hợp được axit hexanyl 1-2 để làm dầu cà cuống nhân tạo, tất nhiên mùi vị thì không hoàn toàn giống với tinh dầu cà cuống thiên nhiên. Thịt và trứng cà cuống của con cái là món gia vị độc đáo. Tuy vậy thịt cà cuống đực cũng có thể ăn được.

Từ thời Triệu Đà (207-317 trước công nguyên) cà cuống đã được xếp trong những sơn hào, hải vị của người Việt để cống sang Trung Quốc với tên “Con sâu Quế ”.

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

BÍ ĐỎ-MÓN ĂN CHỐNG LÃO HÓA

Không chỉ có mặt trong các thực đơn ở gia đình, nhà hàng, bí đỏ còn được dùng như một loại mỹ phẩm giúp đẹp da, chống lão hóa, đồng thời là “dược liệu” giúp phòng trị một số bệnh.

Bí đỏ là "dược liêu"giúp phòng trị một số bệnh
Đọt bí xào với tỏi hoặc cà chua là món vừa cung cấp chất kháng khuẩn từ tỏi, vừa bổ sung tiền sinh tố A, khoáng chất, chất xơ trong đọt bí. Licopen trong cà chua giúp cơ thể khỏe mạnh, da dẻ mịn màng, mắt tinh tường, nhuận tràng. Còn với trái bí đỏ, nhiều người cho rằng đây là món trị bệnh viêm màng não, bổ não. Thực tế, bí đỏ không thể trị được bệnh viêm màng não, nhưng bổ não thì đúng, vì chúng thường được hầm với xương, xào trong dầu, vì thế cung cấp nhiều chất béo, vitamin A, E, B, rất tốt cho quá trình tăng trưởng của trẻ nhỏ (trẻ dưới hai tuổi rất cần chất béo để phát triển não bộ).

 Theo Đông y, các món ăn lấy bí đỏ làm nguyên liệu giúp làm dịu cơn nhức đầu, tăng cường trí nhớ, giúp xương cốt chắc khỏe. Thông tin của Hội Dinh dưỡng và thực phẩm TP.HCM cũng cho biết, màu vàng có trong bí đỏ chứa nhiều caroten giúp ngăn ngừa bệnh ung thư, bệnh đục thủy tinh thể và suy giảm thị lực ở người cao tuổi.

Bí đỏ sinh ít năng lượng, do đó dùng làm thực phẩm giảm cân rất tốt. Tuy nhiên, nếu nấu bí đỏ với nước cốt dừa thì khó giảm cân vì chất béo trong dừa sinh nhiều năng lượng. Những người có mỡ trong máu cao nên dùng bí đỏ, vì chúng chứa nhiều chất xơ, làm “kỳ đà cản mũi”, không cho chất béo trong thức ăn hấp thu vào thành ruột… Đối với sản phụ, bí đỏ còn có công dụng giúp tăng lượng sữa, nhất là hầm với xương và đậu phộng. Hạt bí đỏ thường dùng để trị giun.

Có hai cách tẩy giun bằng hạt bí: bóc vỏ lụa, giã nhuyễn, trộn với mật ong, uống lúc đói bụng, sau đó uống thêm nước sắc hạt cau, hoặc đơn giản hơn nhưng ngon miệng mà hiệu quả không kém là rang vàng hạt bí đỏ, mỗi sáng thức dậy nhâm nhi một nắm tay, trong vòng một tuần lễ sẽ thấy công dụng của “thuốc” tẩy giun. Cần nhớ, bí đỏ trị được giun chứ không trị được sán. Bên cạnh trị giun, hạt bí đỏ rang vàng còn là “mỹ phẩm” có công dụng giảm hình thành vết nhăn, bảo vệ tim. Đó là nhờ các vitamin trong bí đỏ như E, A, C, B…, giúp củng cố hệ miễn dịch, tăng cường sức khỏe...

Bông bí đỏ được dùng làm nguyên liệu trong nhiều món. Nếu ăn cùng các loại sò, ốc, hến… bí đỏ sẽ trở thành vị thuốc “một người ăn hai người vui”. Trong các gia đình, bông bí được chế biến đơn giản, chủ yếu là xào tỏi, xào nghêu hoặc luộc ăn với mắm, nước tương, nước kho thịt… Còn tại các nhà hàng, món bông bí thường rất cầu kỳ như nhồi thịt heo hoặc cá thát lát, đem chiên giòn làm món khai vị hoặc nhúng trong lẩu.
Bí đỏ dễ trồng, chỉ cần gieo hạt vào đất ẩm là mọc. Trong vòng 15 - 20 ngày sẽ có đọt non để ăn. Còn muốn ăn hoa và trái phải chờ gần hai tháng.

TRÀ DƯỢC PHÒNG CHỐNG ĐƯỢC TẢO TIẾT

Tảo tiết (xuất tinh sớm) là một bệnh thường gặp và đang có xu hướng gia tăng trong giới mày râu. Các biện pháp phòng chống căn bệnh này của y học cổ truyền là hết sức phong phú, trong đó có việc sử dụng các phương trà dược độc đáo. Có thể dẫn ra một số ví dụ cụ thể như sau:

Trà dược phòng
Phương 1: Cà rốt sấy khô 120g, phá cố chỉ 60g, thỏ ty tử 60g, sơn thù nhục 60g. Tất cả đem tán vụn, mỗi ngày lấy 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Ôn thận cố tinh.

Phương 2: Dâm dương hoắc 15g, thục địa 15g, sơn thù nhục 10g, ba kích thiên 12g, trạch tả 9g. Tất cả đem sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Ích thận cố tinh.

Phương 3: Kim anh tử 300g bỏ hết lông, sấy khô, tán vụn, mỗi ngày lấy 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Cố tinh sáp niệu.

Phương 4:Trạch tả 10g, hoài sơn 15g. Hai thứ thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Bổ thận kiện tỳ, cố tinh.

Phương 5: Thỏ ty tử 30g, kỷ tử 30g, đường đỏ 60g. Đem thỏ ty tử và kỷ tử hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, chắt nước ra cốc, pha thêm một chút đường đỏ, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Bổ can thận, dưỡng âm huyết, cố tinh sáp niệu.

Phương 6: Ngũ vị tử 12g, đường phèn vừa đủ. Đem ngũ vị tử hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, chắt nước ra cốc, pha thêm đường phèn, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Bổ thận cố tinh.

Phương 7: Hạch đào nhân 20g đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, chắt nước ra cốc, pha thêm một chút đường trắng, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Bổ thận cố tinh.

Phương 8: Bạch tật lê 12g, khiếm thực 12g, liên tu (tua sen) 12g, long cốt 10g, mẫu lệ 10g. Các vị sấy khô, tán vụn, đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày.

Công dụng: Bổ thận cố tinh, an thần sáp niệu.

Nhìn chung, các phương trà trên đều đơn giản, rẻ tiền, dễ chế và dễ dùng. Để đạt được kết quả dự phòng và hỗ trợ trị liệu tốt nhất, cần sử dụng kiên trì và phối hợp cùng các biện pháp khác trên nguyên tắc chỉnh thể và toàn diện.

CÁ THU KIỆN TỲ,BỔ KHÍ

Cá thu có tên khác là mã giao lang, kim thương ngư, tuyết ngư. Nhìn chung, các loại cá thu có thân dài, thon, có vẩy rất nhỏ nằm sau các vây lớn ở lưng và bụng; khác với cá ngừ (có thân bầu, vẩy to hơn).


Cá thu
Cá thu, cá chim, cá nhụ, cá đé là 4 loại cá quý được đánh bắt trên biển, có vị ngon, giá trị dinh dưỡng cao (tứ quý ngư).

Cá thu rất giàu protein và acid amin cần thiết, chất béo, Ca, P, Fe, Mg và các loại sinh tố A, D, E. Đặc biệt, dầu gan cá thu được sử dụng rộng rãi trên thị trường quốc tế vì có nhiều sinh tố A, D, chất omega-3, có giá trị dinh dưỡng cao, cần thiết cho tăng trưởng bảo vệ thị lực chống khô mắt, viêm loét giác mạc do thiểu dưỡng và còi xương cũng như có lợi cho hoạt động của màng tế bào, giúp làm giảm mỡ xấu và tăng khả năng giữ mỡ tốt trong máu.

Theo đông y, cá thu vị ngọt, bình, không độc; vào tỳ vị can thận. Thuộc nhóm bổ khí kiện tỳ.

Tác dụng: Bổ ích nguyên khí, hoà dưỡng tạng phủ, cường thận, kiện cốt. Dùng cho mọi trường hợp suy nhược, thiểu dưỡng, khí hư, huyết hư, mệt mỏi, lao bỏng nặng, suy kiệt, ăn kém, gầy yếu sút cân, đau đầu chóng mặt, mỏi mắt.

Cá thu giàu protein và các acid amin cần thiết cho cơ thể.

Một số thực đơn chữa bệnh có cá thu:

Cá thu kho tiêu gừng: Cá thu (làm sạch, bỏ ruột) thêm gừng tươi, bột tiêu, gia vị kho nhừ ăn thường ngày.

Có tác dụng bổ dưỡng tạng phủ nguyên khí. Dùng cho mọi lứa tuổi, đặc biệt là người cao tuổi, phụ nữ có thai, sau đẻ, trẻ em, người bị tiêu chảy, kiết lỵ dài ngày.

Cá thu hầm hoài sơn sâm kỳ: Cá thu 200g, đảng sâm 15g, hoàng kỳ 200g, hoài sơn 15g. Cá thu (làm sạch, bỏ ruột) cho cùng các vị thuốc, thêm gia vị hầm nhừ, sau bỏ bã thuốc. Tác dụng bổ dưỡng tạng phủ, ích khí kiện tỳ. Dùng cho các trường hợp tỳ vị hư, tiêu chảy dài ngày, phụ nữ huyết trắng, rong kinh, rong huyết, các trường hợp thoát vị, sa dạ dày, sa trực tràng, sa tử cung, suy kiệt thiểu dưỡng.

Có thể thêm trong thực đơn này bạch truật 15g, vẫn để nguyên hoàng kỳ hoặc bỏ hoàng kỳ thành thực đơn cá thu hầm sâm truật hoài sơn.

Hỗ trợ điều trị vảy nến: Mỗi ngày dùng 150g cá, dùng liên tục có thể làm giảm thuốc thuộc nhóm corticoid mà không mất hiệu quả chữa bệnh nhờ omega-3, có tác dụng ức chế chất sinh viêm trong bệnh vảy nến như leucotrien 3 và 5.

Làm đẹp da, giảm mụn: Là thực phẩm chức năng có tác dụng làm giảm bớt mụn trên mặt, xẹp nhanh các mụn bọc do omega-3 giúp bảo vệ tế bào chống lại sự tấn công của vi khuẩn.

DƯA HẤU CÓ TÁC DỤNG LỢI TIỂU,HẠ HUYẾT ÁP

Dưa hấu, một loại cây ăn quả được trồng rộng rãi ở nước ta được mọi người ưa thích. Trong Đông y, dưa hấu còn là vị thuốc tốt. Chúng tôi giới thiệu một số cách dùng dưa hấu làm thuốc bổ dưỡng và chữa bệnh.

Dưa hấu
Theo Đông y, dưa hấu có vị ngọt, tính hàn; vào tâm, vị, bàng quang. Vỏ quả có vị ngọt, tính mát; vào kinh tâm và vị. Hạt dưa vị ngọt, tính bình. Dưa hấu có tác dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi thủy.

Bộ phận dùng làm thuốc: Thịt quả (tây qua thuỷ); phần bầu trắng (tây qua); lớp vỏ xanh (tây qua bì); hạt.Dùng cho các trường hợp say nắng, say nóng gây sốt nóng mất nước, trạng thái tinh thần dạng cuồng sảng kích ứng, miệng khô, họng khát, tiểu ít, đái buốt, đái dắt. Tây qua có tác dụng thanh giải nóng nực, lợi niệu. Hạt vị ngọt, tính lạnh; tác dụng hạ nhiệt, lợi tiểu, hạ huyết áp, tăng sinh lực.

Dưa hấu được dùng trong các trường hợp sau:

Nước ép:

+ Dưa hấu bổ ra ép lấy nước khoảng 250ml, cho uống. Dùng cho bệnh nhân: miệng khô nứt, khát nước, thần kinh kích thích.

+ Nước ép dưa hấu liều lượng tùy ý, uống rải rác trong ngày. Dùng cho các trường hợp loét miệng, viêm họng dạng khô.

Dùng phối hợp trị các bệnh:

+ Trị nóng nực, ra mồ hôi nhiều, đầu váng, mắt hoa đau nhức: vỏ quả dưa hấu 20g, lá sen tươi 12g, kim ngân hoa tươi 16g, hoa biển đậu tươi 12g, ty qua bì 12g, trúc diệp tâm tươi 12g. Sắc uống.

- Thanh nhiệt, lợi niệu: Dùng cho chứng thấp nhiệt hoàng đản, bụng đầy nước, tiểu tiện nóng rát không thông:

+ Trị báng nước: Bổ quả dưa ra lấy bầu, cho sa nhân, tỏi vào trong, trát đất kín, phơi cho khô, lại sấy khô.

Loại bỏ bùn đất, tán nhỏ. Ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 4g, uống với nước ấm.

+ Trị phù thũng do viêm thận cấp tính: Tây qua bì 40g, bạch mao căn tươi 40g, xích tiểu đậu 20g. Sắc uống.

Một số món ăn - bài thuốc từ dưa hấu:

+ Dưa hấu 1 quả, tỏi 30 - 60g. Khoét một miếng tạo ra lỗ hổng, cho tỏi đã bóc vỏ vào, đặt miếng dưa vừa khoét cho kín, cho vào nồi, đun cách thủy, lấy ra ép lấy nước cho uống. Dùng cho bệnh nhân xơ gan cổ trướng, viêm thận cấp, viêm thận mạn.

+ Dưa hấu (lấy phần vỏ đầy bỏ ruột đỏ) 60g, diếp cá 30g, rau mướp 30g cùng đem nấu dạng canh, thêm gia vị cho ăn. Dùng cho các trường hợp viêm tắc mũi dạng viêm khô. Liên tục 3 - 5 ngày.

+ Nước ép dưa hấu (chủ yếu phần cùi) 200ml để sẵn; chi tử 12g, xích thược 2g, hoàng liên 2g, cam thảo 2g. Sắc lấy nước cho thêm ít đường phèn khuấy tan đều. Uống dần ít một, ngậm giữ ở trong miệng khoảng vài phút trước khi nuốt. Ngày 1 lần, liên tục trong ngày. Dùng cho các bệnh nhân viêm họng loét miệng.

+ Tây qua bì 300g, cà rốt 200g, gừng tươi 15g. Tây qua bì thái lát; cà rốt thái lát, gừng tươi đập giập. Xào với dầu thực vật, thêm gia vị. Cho ăn thành bữa phụ hoặc ăn trong bữa chính. Ngày 1 lần, đợt dùng 7 - 10 ngày. Dùng cho các bệnh nhân viêm xoang mũi má, tắc ngạt mũi tiết đờm vàng đục có thể lẫn máu.

+ Vỏ dưa 40g, mạch nha 20g, ý dĩ 20g. Nấu thành cháo đặc, ăn trong ngày, liền trong 5 - 7 ngày. Trị mùa hè ăn uống kém, tiêu hoá không tốt, đầy bụng, người mệt mỏi.

+ Vỏ quả phơi khô, đốt thành than, tán bột. Ngậm để chữa lở miệng hôi.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn, có bệnh hàn thấp kiêng dùng.

GẠO LỨT VÀ DINH DƯỠNG TUYỆT VỜI CỦA NÓ

So với gạo trắng thì gạo lứt là một loại thực phẩm nhiều dinh dưỡng hơn hẳn.

Gạo lứt là thực phẩm nhiều dinh dưỡng
Một nhóm các nhà khoa học Nhật Bản, thuộc Trường ĐH Shinshu ở Nagano, đã phát hiện thấy gạo lứt khi được ngâm trong nước ấm khoảng 22 giờ chứa rất nhiều chất dinh dưỡng. Lý do là gạo lứt lúc này đang ở trạng thái nảy mầm.

Tiến sĩ Hiroshi Kayahara, giáo sư khoa sinh học và kỹ thuật sinh học thuộc trường này, cho biết các enzyme nằm yên trong hạt gạo ở trạng thái này được kích thích hoạt động và cung cấp tối đa các chất dinh dưỡng.
Theo Hiroshi Kayahara và đồng nghiệp, mầm gạo lứt ngâm nước lâu chứa nhiều chất xơ, các vitamin và chất khoáng hơn so với gạo lứt chưa ngâm.

Trong báo cáo về kết quả nghiên cứu, Kayahara viết rằng, so với gạo lứt chưa ngâm nước thì gạo lứt đã ngâm nước chứa gấp 3 lần chất lysine, một loại amino axít cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì các mô tế bào cơ thể con người. Gạo lứt có chứa lượng hợp chất gamma-aminobutyric, một axít có lợi cho thận, nhiều hơn 10 lần so với gạo lứt chưa ngâm nước.

Tiến sĩ Kayahara cho biết thêm, gạo lứt nảy mầm không những chứa nhiều chất dinh dưỡng, mà còn nhanh chín hơn. Khi chín, gạo lứt nảy mầm có vị hơi ngọt vì các enzyme đã tương tác với các loại đường và đạm trong hạt gạo. Trong khi đó, gạo trắng dù có đem ngâm cũng không thể nảy mầm.

Bộ Nông nghiệp Mỹ đã khuyên mọi người nên sử dụng nhóm hạt thô, trong đó có gạo lứt, như là thành phần chủ yếu trong chế độ dinh dưỡng. Gạo lứt cung cấp nhiều carbohydrate và chất khoáng cũng có mặt ở phần vỏ bọc ngoài của hạt gạo.

Một bát nhỏ cơm gạo lứt cung cấp khoảng 230 calo, 3,5 gam chất xơ, 5 gam chất đạm, 50 gam carbohydrate và các vitamin B6, B1, B2, B3, vitamin E, cùng nhiều chất khoáng khác.

Nhiều công trình nghiên cứu trước đây cũng cho thấy chất xơ trong gạo lứt có tác dụng phòng ngừa một số bệnh liên quan đến đường tiêu hóa và bệnh tim mạch. Viện Ung thư quốc gia Mỹ đã đưa ra lời khuyên là nên sử dụng khoảng 25 gam chất xơ mỗi ngày. Một bát cơm gạo lứt cung cấp khoảng 3,5 gam chất xơ, trong khi đó một bát cơm gạo trắng chỉ cung cấp có 1 gam mà thôi.

Một thành phần quan trọng khác trong vỏ bọc ngoài của gạo lứt chính là một loại dầu có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu, mà cholesterol lại là một yếu tố quan trọng gây nên bệnh tim mạch.

Các nhà khoa học đã tìm thấy trong cám bọc ngoài hạt gạo lứt một loại dầu gọi là tocotrienol factor, có tác dụng loại bỏ những chất hóa học gây ra hiện tượng đông máu, và đồng thời giảm lượng cholesterol.

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

LỢI ÍCH CỦA DẦU HẠT NHO

Dầu hạt nho được chiết xuất từ hạt nho và được sử dụng rộng rãi trong các loại thuốc, sử dụng khi nấu ăn và là thành phần trong mỹ phẩm do đặc tính dinh dưỡng của nó.

Dầu hạt nho được sử dụng rộng rãi trong các loại thuốc
Ngoài ra dầu hạt nho được sử dụng rộng rãi trong việc sản xuất các loại dầu massage, kem chống nắng và kem dưỡng ẩm cơ thể… Dưới đây là những lợi ích tuyệt vời của dầu hạt nho.

1. Chất chống oxy hóa

Dầu hạt nho là một chất có tác dụng chống oxy hóa rất tốt. Và đã được khoa học chứng minh rằng đây là loại dầu chống lại sự oxy hóa rất mạnh mẽ, hơn hẳn so với các nguồn chất chống oxy hóa khác của các loại vitamin E và C. Dầu hạt nho có tính kháng viêm, nó có thể ngăn ngừa dị ứng, làm giảm mụn trứng cá và duy trì độ ẩm. Trên thực tế đã thu được rất nhiều kết quả trong việc điều trị mụn trứng cá, đốm đồi mồi trên da và những vết rám nắng và các vấn đề khác như vết rạn da, viêm da, dị ứng, chàm dị ứng và da khô, ngứa. Ngoài ra dầu hạt nho còn có tác dụng bảo vệ da khỏi sự bức xạ cực tím từ mặt trời do có hiệu quả chống nắng tự nhiên.

2. Làm giảm cholesterol

Sự khác biệt nổi trội hơn so với các chất chống oxy hóa khác của dầu hạt nho đó là nó còn mang lại nguồn phong phú các vitamin E, flavonoid, vitamin C và beta-carotene. Nó làm giảm nồng độ cholesterol LDL (dạng cholesterol xấu) có hại trong cơ thể, do đó dầu hạt nho trở thành một thành phần thực phẩm lành mạnh trong nấu ăn. Nó giúp tăng cường lưu thông máu, cải thiện tầm nhìn, và cũng có thể làm giảm đau khớp bằng cách tăng tính linh hoạt của khớp. Còn được gọi là kháng histamine. Dầu hạt nho cũng có ích trong việc ngăn ngừa bệnh hen suyễn và các bệnh dị ứng khác.

3. Giúp chống lại các bệnh AVERT

Với công dụng tuyệt vời, dầu hạt nho có tác dụng làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành. Hơn thế do có giá trị dinh dưỡng cao nên dầu hạt nho cũng vô cùng hiệu quả trong việc kiểm soát sự tăng trưởng của các tế bào ung thư: dạ dày, tiến tiền liệt, ruột kết và ung thư phổi. Nó ngăn chặn quá trình apoptosis (Chức năng chính của apotosis là nhằm loại bỏ những tế bào không cần thiết ra khỏi mô, cơ quan, cơ thể mà không làm ảnh hưởng đến tế bào lân cận), ngăn chặn quá trình tế bào ung thư bắt đầu phá hủy các cơ quan nội tạng. Dầu hạt nho cũng có tác dụng ngăn ngừa tổn thương gan.

 Bên cạnh đó dầu hạt nho có chứa axit linoleic, giúp làm giảm các tác dụng phụ của bệnh tiểu đường. Nó cũng chứa chất flavonoid và oligomeric proanthocyanidin giúp cải thiện mạch máu lưu thông, tái tạo các các thành phần của máu, ngăn ngừa bệnh trĩ và bệnh cao huyết áp. Nó cũng rất hữu ích trong việc cải thiện sức khỏe tim mạch. Dầu hạt nho cũng giúp sản sinh ra collagen để duy trì sức khỏe của mô liên kết ở các khớp vì vậy nó thực sự hữu ích trong việc phòng ngừa đau khớp.

LỢI ÍCH ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CỦA TRÀ A-TI-SÔ

Lá của cây atisô thường được sử dụng cho mục đích y học. Lá atisô được sấy khô, thường được sử dụng để làm trà. Trước khi sử dụng trà atisô cho các mục đích y tế nên tham khảo ý kiến ​​bác sĩ.

A-ti-sô có chứa lượng chất chống oxy hóa cao
Atisô là một loại rau thường được sử dụng như thực phẩm và cũng được dùng để chế biến món ăn. Tuy nhiên, không thể phủ nhận những lợi ích sức khỏe của atisô. Atisô được đánh giá là có chứa lượng chất chống oxy hóa cao. Lá của cây atisô thường được sử dụng cho mục đích y học. Lá atisô được sấy khô, thường được sử dụng để làm trà. Trước khi sử dụng trà atisô cho các mục đích y tế nên tham khảo ý kiến ​​bác sĩ.

Tốt cho tim mạch
Atisô rất giàu vitamin và chất khoáng. Một lượng atiso trung bình đáp ứng 20% nhu cầu vitamin C của cơ thể trong 1 ngày, cung cấp khoảng 60calo đồng thời giàu kali và magiê nên rất tốt cho tim mạch.

Giảm cholesterol
Trà atisô có thể làm giảm mức độ cholesterol xấu trong máu. Atisô có thể làm giảm mức độ cholesterol LDL (cholesterol xấu), triglycerides và tổng cholesterol trong huyết thanh, trong khi nâng cao mức độ cholesterol HDL có lợi.

Trà atisô giảm khó chịu về tiêu hóa
Trà atisô có thể cung cấp các hỗ trợ cho đường tiêu hóa thông thường, bao gồm buồn nôn buồn nôn, ợ nóng và nôn. Nó cũng có thể bình thường hóa chức năng của ruột và giảm táo bón, tiêu chảy và đầy hơi. Lá atisô có ảnh hưởng đến việc sản xuất mật, và có tác dụng cải thiện quá trình này.

Trà atisô cải thiện sức khỏe của gan
Các cơ chế kích thích hệ thống mật của trà atisô cũng có tác dụng tương tự đến gan. Trà atisô trà có thể cải thiện chức năng của gan, đặc biệt là giúp gan hoạt động tốt hơn trong việc đào thải chất độc khỏi cơ thể. Trà atisô trà có thể cung cấp các lợi ích cụ thể làm giảm xơ gan bằng cách giúp các chức năng gan hoạt động tốt hơn.

Giảm lượng đường trong máu
Trà atisô rất có ích cho bệnh nhân tiểu đường vì nó có thể ổn định lượng đường trong máu hiệu quả. Mặc dù trà atisô có thể được sử dụng để giúp điều trị bệnh tiểu đường nhưng bạn nên kiểm tra với bác sĩ trước khi sử dụng bất kỳ sản phẩm bổ sung liên quan đến atisô.

Chú ý: Cách lựa chọn atisô đủ tiêu chuẩn

Chọn astisô có lá màu xanh, không nên dùng những loại lá đã phơi khô hay lá héo. Vì phần dưới rất thô ráp và không ăn được nên chỉ tỉa khoảng 2,5cm từ ngọn cây và cắt khoảng 0,6cm phía đầu lá.

Có thể dùng astisô dưới hình thức hấp cách thuỷ hay đun trong nước sôi khoảng 30 phút để ăn hoặc uống.

CHỮA BỆNH GAN BẰNG ĐẬU ĐỎ

Đậu đỏ không chỉ là một thực phẩm giàu dinh dưỡng mà còn là một vị thuốc chữa nhiều bệnh.

Đậu đỏ là 1 vị thuốc
Đậu đỏ chữa bệnh gan
Đậu đỏ không chỉ là một thực phẩm giàu dinh dưỡng mà còn là một vị thuốc chữa nhiều bệnh.

Trong đậu đỏ có nhiều protein dưới dạng albumin, lipit (chất béo) có nhiều axit béo không no, có nhiều vitamin B1, B2 và các khoáng chất quý hiếm có hoạt chất sinh học cao, có tác dụng bồi bổ cơ thể nâng cao mức đề kháng…

Trong Đông y, đậu đỏ còn được gọi là xích tiểu đậu là một vị thuốc trong Đông y có tác dụng bồi bổ cơ thể, dùng cho người hư nhược, mới ốm dậy, phụ nữ sau khi sinh nở.

Xích tiểu đậu còn là vị thuốc có tác dụng lợi thuỷ hành huyết tiêu sưng tấy, rút mủ. Dùng chữa các bệnh thuỷ thũng, ung nhọt, tả lỵ…

Chữa viêm gan cấp hoặc vàng da
: Xích tiểu đậu 30g, táo tầu 30g, nhân hạt lạc 30g, đường cát lượng vừa đủ nấu nhừ lên, chia 3 lần ăn trong ngày.

Chữa xơ gan cổ trướng: Đậu đỏ 200g, cá chép 300g (1 con). Cá chép làm sạch, bỏ nội tạng, vo sạch đậu đỏ, cho nước nấu thành canh, đậu mềm là được.

Ăn cá uống nước canh. Mỗi ngày hay cách ngày ăn 1 lần cho đến khi bệnh khỏi. Công hiệu lợi tiểu, chống phù thũng.

Chữa phù thũng, tiểu tiện không thông: Đậu đỏ 20g, hạt bo bo 30g, gạo 30g, đường vừa đủ. Cho đậu đỏ đã ngâm mềm vào nồi nấu sôi, hạ lửa chờ đậu mềm nhừ thì cho bo bo và gạo nấu tiếp đến nhừ cho đường vừa ngọt thành chè đậu đỏ, ngày ăn 2 lần trong nhiều ngày.

Món này có công hiệu hồi phục chức năng hệ tiêu hoá, lợi tiểu.

Lợi sữa, thông tiểu: Đậu đỏ 250g. Đậu đỏ vo sạch cho vào nồi, đổ 500ml nước nấu trong 20 phút, bỏ đậu uống nước.

Cần uống liền 3 – 5 ngày sẽ thông sữa, tiêu phù.

Chè thanh nhiệt trừ thấp: Đậu đỏ 50g, củ mài (hoài sơn) 50g, đường vừa phải.

Chữa sỏi tiết niệu: Đậu đỏ 50g, gạo tẻ 50g, màng trong mề gà (kê nội kim) 20g phơi khô tán bột, đường trắng vừa đủ.

Lấy đậu đỏ cùng gạo nấu thành chè, trộn màng gà trong mề gà đã tán bột vào, cho đường khuấy đều, ngày ăn 2 lần. Một liệu trình là 30 ngày.

Chữa đau lưng: Đậu đỏ 50g, vỏ dưa hấu 50g, rễ cỏ tranh 50g. Tất cả sắc uống chia 2 lần trong ngày, cần sử dụng vài ngày.

Chữa bế kinh, đau bụng kinh: Đậu đỏ 30g, gạo tẻ 30g, đường mạch nha vừa đủ dùng. Đậu đỏ cùng gạo nấu nhừ cho đường mạch nha vào vừa ngọt, ăn hết trong ngày.

Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

THUỐC PHÒNG CHỐNG ĐAU ĐẦU

Đau đầu là một chứng trạng thường gặp trong thực tiễn lâm sàng. Trong Y học cổ truyền, đau đầu thuộc phạm vi chứng Đầu thống. Đau đầu do rất nhiều nguyên nhân gây ra song tựu chung không ngoài hai phương diện là ngoại cảm (nhân tố tác động bên ngoài) và nội thương (nhân tốt tác động bên trong). Ngoài việc dùng thuốc và các biện pháp khác để giảm đau, cổ nhân xưa còn dùng các món dược thiện để chữa trị căn bệnh này. Bạn đọc có thể tham khảo vận dụng cho mình hoặc người thân khi cần thiết.

Bệnh đau dầu
@ VỚI THỂ PHONG HÀN NGOẠI NHẬP


Triệu chứng
: Đau đầu kèm theo đau cổ gáy, sợ gió, sợ lạnh, đau bụng, đau tăng khi đi ra gió, thường xuyên thích che kín đầu, có thể sốt nhẹ, sổ mũi, tắc mũi, chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng.

Dược thiện
Đầu Cá mè hoa 1 cái, Xuyên khung 3 – 9g, Bạch chỉ 6 –9g. Cho Xuyên khung và Bạch chỉ vào túi vải rồi đem nấu với đầu cá thành canh, khi chín nhừ chế thêm gia vị ăn nóng.

Công dụng: Sơ phong tán hàn, chỉ thống
Hành củ 10g, Đạm đậu xị 10g, Gạo tẻ 100g. Gạo vo sạch đem nấu thành cháo, khi nhừ cho Đạm đậu xị và hành vào đun thêm một lát là được, chia ăn vài lần trong ngày.

Công dụng
: Tân ôn giải biểu, khứ phong tán hàn. Cũng có thể cho thêm vào nồi cháo lá Tía tô tươi 10g, Gừng tươi 3 lát để làm tăng khả năng giải biểu trừ hàn.

Sinh khương (Gừng tươi) 10g, Đường đỏ lượng vừa đủ. Sinh khương rửa sạch, thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, chế thêm Đường đỏ uống nóng.

Tác dụng: Tàn hàn giải biểu, chỉ thống.

@ VỚI THỂ PHONG NHIỆT THƯỢNG PHẠM

Triệu chứng
: Đau đầu có cảm giác căng chướng, thậm chí đau kịch liệt, phát sốt, sợ lạnh, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng khát thích uống nước mát, đại tiện táo bón thường xuyên hoặc khó đi, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch nhanh.

Dược thiện
Thịt lợn nạc 120g, củ Sắn dây (Cát căn) tươi (nếu khô thì dùng 30g), Sài hồ 12g. Sài hồ, Cát căn rửa sạch, cắt vụn; thịt lợn rửa sạch thái miếng, tất cả cho và nồi hầm lửa nhỏ trong 2 giờ chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn hàng ngày.

Công dụng: Sơ phong thanh nhiệt, giải cơ chỉ thống.

Tang diệp (lá Dâu) 10g, Trúc diệp (lá Tre) 15 – 30g, Cúc hoa 10g, Bạch mao căn 10g, Bạc hà 6g. Tất cả rửa sạch cắt vụn hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10 phút thì dùng được, uống thay trà.

Công dụng: Sơ phong tán nhiệt,
Xuyên khung 3g, Trà diệp 6g. Hai vị đem sắc lấy nước uống ấm.

Công dụng: Khứ phong tán nhiệt, lý khí chỉ thống.

@ VỚI THỂ CAN DƯƠNG THƯỢNG CANG

Triệu chứng
: Đau đầu kèm theo hoa mắt chóng mặt, có thể chỉ đau nửa đầu, tâm trạng buồn phiền uất ức, dễ cáu giận, mất ngủ hoặc giấc ngủ không sâu nhiều mộng mị, mặt đỏ, miệng đắng, đau tức hai bên sườn, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng.

Dược thiện
Thiên ma 25g, Xuyên khung 10g, Bạch linh 10g, Cá chép tươi 1 con chừng 1000g, gia vị vừa đủ. Xuyên khung, Thiên ma, Bạch linh, thái phiến rồi cho vào bụng cá cùng gia vị, đem hấp cách thủy chừng 30 phút, ăn trong ngày.

Công dụng: Bình can định thần, hoạt huyến chỉ thống
Cà chua 250g, Gạo tẻ 100g, Đường đỏ 150g, nếu có thêm một chút dầu Hoa hồng thì càng tốt. Cà chua rửa sạch, cắt miếng rồi đem ninh với gạo thành cháo, chế thêm Đường đỏ, chia ăn vài lần trong ngày.

Công dụng: Thanh nhiệt, lương huyết, bình can.

@ VỚI THỂ KHÍ HUYẾT LƯỠNG HƯ

Triệu chứng
: Đau đầu, hoa mắt chóng mặt, hay hồi hộp trống ngực hay có cảm giác khó thở, dễ vã mồ hôi hoặc đổ mồ hôi trộm, sợ gió, tinh thần mệt mỏi sắc mặt nhợt nhạt hoạc vàng úa, chất lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng.

Dược thiện
Ngũ vị tử 20g, thịt Thăn lợn 200g, Trứng gà 2 quả, Bột mì 25g, Mỡ lợn 50g, nước luộc gà 100ml, gia vị vừa đủ. Thịt lợn rửa sạch, thái miếng ướp với gia vị, một chút Rượu vang và nước sắc Ngũ vị tử; đập trứng vào bát, hoà đều với Bột mì. Cho mỡ vào chảo đun nóng già rồi rán thịt lợn sau khi đã nhúng vào dung dịch trứng bột. Tiếp đó đem thịt rán rim với nước luộc gà cho mềm, chế thêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày.

Công dụng: Ích khí dưỡng huyết, kiện vận tỳ vị
Hoàng tinh 30g, Đẳng sâm 30g, Hoài sơn 30g, Gà mái một con (nặng chừng 500g), gia vị vừa đủ. Gà làm thịt, chặt miếng, các vị thuốc thái phiến cho vào túi vải. Tất cả cho vào nồi, chế đủ gia vị, hầm nhừ, chia ăn vài lần trong ngày.

Công dụng: Ích khí bổ hư

@ VỚI THỂ ĐÀM TRỌC Ứ TRỞ

Triệu chứng
: Đau đầu nặng như đeo đá, tinh thần nặng nề, ngực bụng đầy chướng hay có cảm giác buồn nôn, chán ăn, chậm tiêu, lưỡi bè có vết hằn răng, rêu lưỡi dầy nhờn.

Dược thiện
Bạch cương tàm lượng tuỳ ý, Hành củ 6g, lá Chè 3g. Ba thứ thái vụn hãm hoặc sắc nước uống thay trà hàng ngày.

Công dụng: Hoá đàm, khứ phong chỉ thống.
Hoài sơn 30g, Bán hạ chế 30g. Hoài sơn thái vụn, sắc Bán hạ lấy nước rồi nấu với Hoài sơn thành cháo, thêm Đường đỏ, chia ăn vài lần trong ngày.

Công dụng: Táo thấp hoá đàm, giáng nghịch chỉ ẩu
Thiên ma 10g, Trần bì 10g, Óc lợn 1bộ. Thiên ma và Trần bì rửa sạch, thái vụn cho vào bát cùng với Óc lợn hấp cách thuỷ chế thêm gia vị ăn nóng

Công dụng: Hoá đàm giáng trọc, bình can tức phong.

@ VỚI THỂ HUYẾT Ứ

Triệu chứng
: Đau đầu liên miên không dứt, có điểm đau cố định không di chuyển, có lúc đau như dùi đâm kim chích, chất lưỡi có những điểm ứ huyết màu tím, tĩnh mạch dưới lưỡi giãn rộng.

Dược thiện
Xuyên khung 3 – 6g, Hồng hoa 3g, Trà diệp 3 – 6g. Tất cả đem sắc kỹ lấy nước uống thay trà.

Công dụng: Hoạt huyết hoá ứ, khứ phong chỉ thống
Cua đực 500g, Hành củ khô 150g, Gừng tươi thái chỉ 25g, Mỡ lợn 75g, gia vị vừa đủ. Cua làm sạch chặt đôi, hành khô bóc vỏ thái lát. Cho mỡ vào chảo phi Hành và Gừng cho thơm rồi bỏ ra, tiếp tục bỏ cua vào rang, khi gần được bỏ Hành, Gừng, và gia vị vừa đủ, chế thêm một chút nước đun lửa nhỏ cho đến khi cạn khô là được, dùng làm thức ăn hàng ngày.

Công dụng: Hoạt huyết hoá ứ, tư âm thanh nhiệt.

THÓI QUEN PHÒNG NGỪA SỎI THẬN

Sỏi thận là căn bệnh thuộc đường tiết niệu phổ biến thứ 3 sau các bệnh viêm nhiễm đường niệu và tuyến tiền liệt. Đây là căn bệnh nguy hiểm mà nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do rối loạn trao đổi chất khoáng, những chất khoáng kết tủa và tích tụ lâu ngày trong cơ thể, dần dần hình thành sỏi. Những người thường xuyên làm việc tĩnh tại trong các văn phòng hay công nhân làm việc trong các nhà máy và đặc biệt những người có chế độ dinh dưỡng chưa hợp lý là những đối tượng có nguy cơ mắc cao hơn cả.

Uống nước chanh giảm nguy cơ sỏi thận

Dấu hiệu của bệnh phụ thuộc vào giai đoạn hình thành sỏi. Tuy nhiên, giai đoạn sớm của quá trình hình thành sỏi thường không có triệu chứng, nên bệnh nhân không biết. Chỉ đến khi sỏi đã lớn, gây biến chứng mới được phát hiện. Thông thường, triệu chứng thường gặp của bệnh này là xuất hiện các cơn đau vùng thắt lưng, lan xuống hố chậu, bìu, kèm nôn hay trướng bụng.

Bệnh nhân có thể đau khi đi tiểu, nước tiểu đục, đi tiểu ra máu do sỏi gây tổn thương đường tiết niệu hay do nhiễm khuẩn, làm thận chảy máu. Người bệnh có thể sốt cao 38-39oC, hoặc ớn lạnh, thận có cảm giác bỏng rát.

Trong những năm gần đây, vấn đề dinh dưỡng không hợp lý được coi là tác nhân hàng đầu gây nên sỏi thận. Theo TS.BS. Cao Thị Hậu, nguyên Giám đốc TT Dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng quốc gia: thói quen ăn uống không hợp lý hay một chế độ dinh dưỡng không cân đối có mối liên quan mật thiết đến quá trình hình thành sỏi tiết niệu.

Thứ nhất là do uống ít nước, nhiều người khi thấy khát mới uống nước, chứ không biết đến vai trò quan trọng của nước với cơ thể và tác dụng của nước với việc dự phòng sỏi thận. Thứ hai là do chế độ ăn có quá nhiều canxi, khi hàm lượng canxi vào cơ thể vượt quá ngưỡng 1000mg/ngày sẽ tạo lượng dư thừa và lượng dư thừa này sẽ tích tụ, hình thành sỏi.

Thứ ba, thói quen ăn mặn cũng là một nguy cơ, trung bình người bình thường chỉ ăn khoảng 10g muối/ngày và người tăng huyết áp, tim mạch là dưới 5g/ngày. Nhưng do thói quen ăn mặn nên họ thường ăn vượt quá lượng muối cần thiết, chẳng hạn trong bữa ăn chỉ cần ăn thêm vài quả cà muối quá mặn là có thể tạo ra lượng muối dư thừa. Tiếp theo là chế độ ăn mất cân đối giữa các nhóm thực phẩm, chẳng hạn ăn quá nhiều đạm cũng không tốt…

Dưới đây là một số thói quen dinh dưỡng có thể phòng tránh sỏi thận:

Uống nhiều nước

Để phòng tránh sỏi thận cần phải uống đủ nước. Nước được cung cấp đủ sẽ không chỉ làm máu lưu thông tốt hơn, hòa tan các chất mà còn làm nhiệt độ cơ thể được điều hòa tốt hơn đặc biệt trong mùa hè oi bức. Hơn thế nữa nó giúp thải trừ các chất cặn bã để ngăn ngừa bệnh tật.

Nếu tính theo hoạt động bình thường của cơ thể thì lượng nước tiểu khoảng 1.500ml/ngày, lượng nước qua đường mồ hôi và đường tiêu hóa khoảng 500-1000ml, như vậy nhu cầu về nước là từ 2.000 đến 2.500ml mỗi ngày. Nhu cầu này tăng lên hay giảm đi tùy theo tính chất công việc và đặc biệt là theo thời tiết. Tuy nhiên dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, xây dựng cho mình một thói quen uống đủ nước là vô cùng hữu ích.

Tuy nhiên, không nên uống các loại nước uống nhiều đường, nhất là đối với người béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp. Hạn chế sử dụng nước đá vì nó có thể gây hỏng men răng. Trong một số trường hợp đặc biệt chẳng hạn như những người bị suy tim, suy thận... cần phải có ý kiến của bác sĩ điều trị khi uống nước để có một chế độ nước phù hợp.

Nên dùng nước chanh

Uống ít nhất 1 ly nước chanh mỗi ngày giúp giảm nguy cơ bị sỏi thận. Chất a-xít citric có trong quả chanh giúp ngăn chặn các khoáng chất và những thành tố khác của nước tiểu dính vào nhau và hình thành sỏi thận. Nước chanh được làm từ quả chanh hoặc chất cô đặc của chanh, cung cấp đầy đủ a-xít citric; còn các loại bột hương vị chanh có đường sẽ không đem lại lợi ích tương tự.

Giảm lượng đạm

Hạn chế lượng protein hấp thụ từ các loại thịt và nội tạng động vật, đặc biệt là gan. Nghiên cứu của Bệnh viện Mayo (Mỹ) cho thấy những người ăn nhiều thịt dễ có nguy cơ bị sỏi thận.

Trong thực đơn hàng ngày, nên bổ sung nhiều rau tươi vì chất xơ của rau sẽ giúp tiêu hoá nhanh, tránh ứ đọng trong ruột, giảm thiểu sự tái hấp thụ chất oxalat từ ruột để tạo nên sỏi niệu. Ngoài ra, chất kiềm cung cấp bởi rau tươi sẽ gia tăng sự bài tiết chất citrat chống lại sỏi thận.

Giảm hấp thu calcium và muối

Cả hai thứ này được cho là góp phần hình thành sỏi thận, thế nên giảm hấp thu chúng đồng nghĩa với việc làm cho thận của bạn bớt “nặng nề” hơn.

HẠT CẢI SEN

Cải sen còn gọi là cải bẹ, là cây vừa có giá trị về mặt thực phẩm, vừa có giá trị làm thuốc trong YHCT. Hạt cải sen, tên thuốc là bạch giới tử là vị thuốc được dùng khá phổ biến trong Đông y. Bạch giới tử chứa nhiều acid béo sinapic, arachidic, crucic; tinh dầu...

Hạt cải sen được dùng khá phổ biến trong Đông y
Có nhiều cách chế biến bạch giới tử làm thuốc như: Bạch giới tử vi sao là hạt cải sao nhỏ lửa tới khô, hơi có mùi thơm, để nguội; Bạch giới tử sao vàng là hạt cải sao nhỏ lửa đến màu vàng sẫm có mùi thơm, vị cay, đặc trưng của mùi cải, để nguội; Bạch giới tử sao đen là đun nóng chảo, cho bạch giới tử vào, đảo đều cho đến khi ngoài vỏ có màu hơi đen, để nguội. Bạch giới tử sao đen có màu hơi đen, có vị thơm đặc trưng của họ cải, nhấm có vị hơi cay.

Theo YHCT, bạch giới tử có vị cay, tính ấm, quy kinh phế. Có công năng ôn phế, trừ đàm hàn, giảm đau, tiêu thũng, tán kết, thông kinh lạc, hành khí, lợi khí. Chủ trị ho hàn, nhiều đờm, suyễn tức, khó thở, sườn ngực đau trướng, xương khớp tê đau. Ngày dùng 3 - 9 g, dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Kiêng kỵ: phế hư, ho khan.

Bạch giới tử được làm thuốc trong các chứng bệnh: Mụn nhọt sưng đau, đau họng: hạt cải sen 9g sao qua, nghiền mịn, thêm chút nước, quấy đều tạo thành dạng hồ nhão, lấy bông sạch chấm thuốc, bôi vào nơi sưng đau, nếu đau họng thì bôi quanh vùng ngoài yết hầu. Cách làm này cũng có thể dùng đối với nhọt bọc, hoặc viêm hạch lâm ba. Làm như vậy nhiều lần trong ngày.

Trị đau đầu: hạt cải sen 8g, vi sao, tán mịn, mặt khác lấy 10g gừng tươi, rửa sạch, thái phiến, giã nát, vắt lấy nước cốt. Đem bột hạt cải trộn đều với nước gừng, rồi bôi vào vùng gáy (tốt nhất là bôi vào 2 huyệt phong trì: chỗ lõm hai bên gáy, dưới xương sọ và huyệt phong phủ, lõm dưới xương chẩm), vùng hai bên thái dương và vùng đỉnh đầu (tốt nhất là bôi vào huyệt bách hội, chỗ hơi lõm ở đỉnh đầu, nơi giao nhau của đường kéo từ hai chóp trên của tai lên với đường sống mũi và chẩm). Cũng làm theo cách tương tự để bôi vào các chỗ đau khác, như đau lưng, đau liên sườn, đau gối…Có thể thay gừng bằng rượu, giấm cũng được.

Trị ho đờm: để trị ho đờm có thể dùng riêng hạt cải sen, hoặc tốt nhất là dùng phối hợp với hạt cải củ, còn gọi là lai phục tử, quả tía tô, còn gọi là tô tử, đồng lượng 6 - 9g, dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột. Đây là phương thuốc cổ truyền, dùng tốt cho các chứng ho đờm kéo dài, chứng ho nhiều đờm mà loãng, hen suyễn, đặc biệt ho, hen ở người cao tuổi. Phương thuốc đã được chứng minh trên thực nghiệm chống ho, trừ đờm tốt. Ngoài ra còn có tác dụng ức chế với nhiều chủng vi khuẩn, như tụ cầu vàng, trực khuẩn lỵ, đại tràng, thương hàn; Đặc biệt với hai chủng vi khuẩn thường gặp trong các bệnh đường hô hấp: Pseudomonas aeruginosa và Haemophylus influensae.

CÂY DÂM BỤT CHỮA NHIỀU BỆNH

Cây dâm bụt (Râm bụt) còn gọi là cây bông bụp (tiếng miền Nam) là loại cây nhỡ cao từ 1 đến 2m, lá đơn, mọc cách, phiến lá khía răng cưa. Hoa to màu đỏ hồng, cũng có loại màu trắng hồng, mầu vàng, thường mọc ở nách lá hay đầu cành. Cây dâm bụt mọc hoang ở nhiều vùng nước ta và được trồng làm cây cảnh, làm hàng rào vì có hoa đẹp. Cây dâm bụt còn cho lá, hoa, rễ làm thuốc.

Dâm bụt chữa được nhiều bệnh
Theo Đông y, lá dâm bụt vị nhạt, nhớt, tính bình, có tác dụng làm dịu, an thần, tẩy nhẹ, nhuận tràng, chữa viêm niêm mạc dạ dày, ruột, đại tiện ra máu, kiết lỵ, mụn nhọt, ghẻ lở, mộng tinh, đới hạ. Hoa dâm bụt vị ngọt, tính bình có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, sát trùng, chữa kinh nguyệt không đều, khó ngủ, hồi hộp, đái đỏ. Vỏ rễ dâm bụt vị ngọt, tính bình, có tác dụng điều kinh, chống ho tiêu viêm, chữa viêm tuyến mang tai, viêm kết mạc, viêm khí quản, viêm đường tiết niệu, viêm cổ tử cung, bạch đới, kinh nguyệt không đều, mất kinh (Cây cảnh đẹp cho vị thuốc hay chữa bệnh).

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng dâm bụt:

- Khó ngủ, hồi hộp, đái đỏ: dùng hoa dâm bụt hãm với nước nóng thay nước chè (chữa bệnh bằng cây lá quanh nhà).

- Bạch đới, mộng tinh, đái buốt, đi lỵ: lá, hoa dâm bụt, lá bấn, lá thài lài tía, mỗi thứ một nắm, giã nhỏ, chế nước chín vào, vắt lấy nước uống (chữa bệnh bằng cây lá quanh nhà).

- Mụn nhọt sưng tấy: lá và hoa dâm bụt giã nát, đắp (chữa bệnh bằng cây lá quanh nhà).

- Quai bị, đau mắt: lá dâm bụt và lá dành dành, mỗi thứ 1 nắm giã nhỏ, vắt lấy nước uống, bã thì đắp (chữa bệnh bằng cây lá quanh nhà).

- Viêm tuyến mang tai: lá dâm bụt 30g sắc uống, ngày 1 thang, chia làm 3 lần. Bên ngoài dùng hoa dâm bụt (20g) giã nát đắp chỗ đau (Cây cảnh đẹp cho vị thuốc hay chữa bệnh).

- Viêm kết mạc cấp: rễ dâm bụt 30g sắc uống làm 3 lần trong ngày (chữa bệnh bằng cây lá quanh nhà).

- Kinh nguyệt không đều: vỏ rễ dâm bụt 30g, lá huyết dụ 25g, ngải cứu 10g sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Cần uống 3 ngày liền, trước kỳ kinh 7 ngày (chữa bệnh bằng cây lá quanh nhà).

- Chữa di tinh: hoa dâm bụt 10g, hạt sen 30g sắc uống ngày một thang chia 3 lần, cần uống liền 10 ngày (chữa bệnh bằng cây lá quanh nhà).

- Mất ngủ: lá dâm bụt 15g, hoa nhài 12g sắc uống về buổi chiều, cần uống liền 5 ngày (chữa bệnh bằng cây lá quanh nhà).

Y dược học hiện đại cũng chú ý nghiên cứu cây dâm bụt. Gần đây Giáo sư Chau Jong Wang trường Đại học Y Chung San (Đài Loan) phát hiện hoa dâm bụt có tác dụng hạn chế lượng cholesterol trong máu và giảm nguy cơ bệnh thấp tim (The Guardian 9-2004). Nghiên cứu nước chiết xuất hoa dâm bụt các nhà khoa học phát hiện nước chiết này làm hạ thấp đáng kể mức cholesterol trong máu, ngăn ngừa có hiệu quả quá trình oxy hoá của lipoprotein, bảo vệ thành động mạch thêm vững chắc (Science of Food and Agrriculture).

Đây là nghiên cứu đầu tiên cho thấy hiệu quả kỳ diệu của hoa dâm bụt. Các nhà khoa học còn cho biết tác dụng chữa bệnh của hoa dâm bụt được nâng cao hơn nữa nếu kết hợp với rượu vang đỏ và chè để làm giảm lượng cholesterol và lipid trong máu. Như vậy cây dâm bụt vừa là cây cảnh đẹp vừa là cây thuốc quý, là nguồn gen quý của nước ta.

CÂY LIÊN TIỀN THẢO (CÂY RAU MÁ LÔNG)

Đó là cây rau má lông. Tên khoa học: Glechoma longituba (Nakai) Kupr = Glechoma brevituba Kupr. Họ Lamiaceae.

Cây liên tiền thảo chữa được khá nhiều bệnh
Cây thảo sống lâu năm có thân bò dài đến 0,5m và cho thân đứng có lông dày hay hầu như không lông. Lá mọc đối, có cuống dài, phiến hình thân hay hình tim rộng 1,5 – 4cm, mép có răng to. Chùm hoa ở kẽ lá. Đài cao 5,5 – 8mm có răng nhọn cao bằng 1/2 ống. Tràng màu lam tía môi trên có 2 răng nhỏ, môi dưới có thuỳ giữa dài. Quả đóng to, cứng, màu nâu đen. Hoa tháng 3 – 5, quả tháng 4 – 6 (ảnh trong sách của Võ Văn Chi số 538).

Toàn cây thường gọi là Liên tiền thảo.

Ở nước ta cây mọc ở Cao Lộc (Lạng Sơn) và được trồng ở vùng rừng núi. Trồng bằng thân ngầm có rễ, vào mùa xuân. Thu hái cây quanh năm nhưng tốt nhất là vào mùa hạ. Rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.

Cây chứa tinh dầu dễ bay hơi 0,03 – 0,06% cây khô với các vết của aldêhýt và cotôn như pinocampoon, menthon, isomenthon, pulegon. 2,6% tanin, một chất đắng tương đồng với marrubin, một chất nhựa, một chất sáp một chất béo, 3% đường, và còn có cholin. Cây giàu muối kali. Hạt cũng chứa dầu.

Vị cây, hơi đắng, tính hàn, có tác dụng lợi niệu, thông lâm thanh nhiệt, giải độc, tán ứ, tích thũng. Còn có thể khu phong, trừ thấp, hoạt huyết, tán hàn.

Thường dùng trị:

1. Sỏi niệu đạo, sỏi bàng quang.

2. Thấp nhiệt, hoàng đản, sỏi mật.

3. Cảm cúm, ho do phong hàn.

4. Phong thấp, đau nhức khớp, đau răng, sưng mặt.

5. Kinh nguyệt không đều, thông kinh.

6. Băng lâu, Bạch đới.

Liều dùng: 15 – 30g dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài: Trị viêm tuyến mang tai, mụn nhọt, đòn ngã, tổn thương, gãy xương, giã cây tươi, đắp tại chỗ.