Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

NHỮNG BÀI THUỐC CHỮA NÁM DA

Nám và sạm da thường xuất hiện khi người phụ nữ bước vào độ tuổi 30. Tuy không ảnh hưởng đến sức khoẻ, nhưng sạm da ảnh hưởng đến thẩm mỹ và tâm lý của chị em.

Theo y học cổ truyền, những người có da mặt sạm, nám đen thường mệt mỏi, uể oải, đầu nặng, buồn ngủ, lưng đau. Mạch trầm, sác. Nguyên nhân do thận âm hư rồi dẫn đến thận dương cũng hư. Thận thủy bị tướng hỏa phản khắc, ức chế, dần dần gây nám da. Dưới đây là một số bài thuốc uống có thể giúp cải thiện, ngăn ngừa nám và sạm da.

Rau má
Bài 1: Thục địa (chưng rượu) 20g, hoài sơn (sao vàng) 16g, táo nhục (bỏ hạt) 12g, bạch phục linh 8g, mẫu đơn bì (sao thơm) 12g, trạch tả (ngâm nước muối 2 giờ, sao khô) 8g, thiên hoa phấn 12g, hạ khô thảo 8g, gừng tươi 8g, câu kỷ tử 12g, cúc hoa 8g. Cho các vị thuốc vào nồi, đổ 600ml nước sắc còn 150ml. Sắc 2 lần, hòa chung 2 nước, uống 2 lần trong ngày sau bữa ăn 2 giờ. Uống 10 - 15 thang, nghỉ 7 ngày lại uống tiếp đợt 2. Phụ nữ đang có kinh nguyệt và thai nghén không được uống. Sau khi sinh 2 tháng mới uống.
Hoài sơn chữa nám da.

Bài 2: “Bát tiên trường thọ”: thục địa 16g, hoài sơn 8g, táo nhục 8g, đơn bì 6g, trạch tả 6g, phục linh 6g, mạch môn 8g, ngũ vị tử 8g, ngưu tất 10g, xa tiền tử 8g, ba kích 8g, phá cố chỉ 8g. Sắc uống như bài trên.

Bài 3: A giao 12g, xuyên khung (sao rượu) 8g, bạch thược (sao rượu) 12g, bạch phục linh 12g, đương quy 12g, quảng bì (sao thơm) 8g, sinh địa 12g, huỳnh kỳ 8g, thăng ma 8g, chích thảo 6g, bắc sài hồ (tẩm rượu sao thơm) 8g, gừng sống 8g. Sắc uống như bài trên. Bài này chỉ dùng cho phụ nữ đã có con mà da mặt đen sạm.

Bài 4: Thục địa 12g, phục linh 10g, đơn bì 8g, trạch tả 6g, sơn thù 6g, hoài sơn 8g, mạch môn 6g, tang bạch bì 8g. Sắc uống như bài trên.

Bài 5: Í́ch mẫu thảo 30g, tang ký sinh 30g, trứng gà 4 quả, đường phèn vừa đủ. Trứng luộc, bóc vỏ cho vào nồi nấu với ích mẫu, tang ký sinh. Đổ nước vừa đủ, đun nhỏ lửa trong 30 phút rồi cho đường phèn vào quấy tan; vớt bỏ ích mẫu, tang ký sinh. Ăn trứng uống nước ngày 1 thang. Tác dụng: bổ gan, dưỡng huyết, hoạt huyết, trị mặt sạm đen, trứng cá.

Bài 6: Thiên hoa phấn 16g giã nhỏ, cho nước sôi vào hầm một lúc rồi lọc kỹ, uống liền 4 - 5 ngày.

Bài 7: Rau má 40g, câu kỷ tử 40g, quế tâm 4g. Tất cả phơi khô, tán bột uống liên tục trong 1 - 2 tháng. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa canh.

BÀI THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH LOÃNG XƯƠNG

Loãng xương là bệnh lý diễn biến thầm lặng. Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Đông y Việt nam cho biết, “thận chủ cốt”. Tỳ vị là nguồn để cung cấp tinh chất, khí huyết cho cơ thể.

Sơn thù
Do ăn uống thất thường, thiếu dinh dưỡng, chân tay và toàn thân ít vận động. Tỳ vị bị tổn hại, nhiệm vụ lớn lao của nó không hoàn thành được. Tinh huyết thiếu hụt làm cho xương khô tủy kém mà sinh ra bệnh.

Đông y chia ra các thể lâm sàng như sau:

Loãng xương thể thận dương hư

Biểu hiện lưng đau gối mỏi, cơ thể yếu mệt, chân tay không có lực, lạnh lưng và lạnh chân tay, liệt dương, đầu choáng mắt hoa, tiểu đêm nhiều lần, phân lỏng... Phép trị: ôn bổ thận dương, cường kiện gân cốt.

Dùng bài thuốc: Ngưu tất 16g, nam tục đoạn 16g, ngũ gia bì 16g, cẩu tích 12g, tang ký sinh 12g, tần giao 12g, đỗ trọng 10g, quế 6g, kiện 10g, thục địa (sao khô) 12g, dâm dương hoắc 10g, đại táo 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Loãng xương thể thận âm suy tổn

Biểu hiện mắt hoa, lưng gối đau mỏi, vận động chậm chạp, ù tai, mắt kém, triều nhiệt, tâm phiền, đại tiện táo kết, răng đau, tóc rụng, lợi sưng, tinh thần mệt mỏi. Phép trị: tư bổ thận âm, dưỡng tinh tủy.

Dùng bài thuốc: Hoài sơn 10g, sơn thù 12g, đan bì 10g, trạch tả 12g, bạch linh 10g, thục địa 12g, quy bản (sao) 12g, đương quy 12g, đỗ trọng 10g, khởi tử 12g, đại táo 10g, hắc táo nhân 16g, viễn chí 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Loãng xương thể tỳ hư

Biểu hiện cơ thể gầy xanh, chân tay yếu mềm, ăn ngủ kém, hay bị lạnh bụng, phân lỏng, mình mẩy nặng nề, ngại vận động, chất lưỡi nhợt, mạch trầm tế.

Dùng bài thuốc: bạch truật 12g, sơn tra 10g, thần khúc 12g, bán hạ 10g, hậu phác 12g, cao lương khương 10g, sa nhân 10g, lá lốt 12g, phòng sâm 12g, bạch linh 10g, chích thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.

Gia giảm: - Nếu đau đầu mất ngủ, gia hắc táo nhân 12g, viễn chí 12g; Hay sôi bụng, phân lỏng, gia: quế 8g, sinh khương 6g; Đau nhức các khớp, gia: đỗ trọng 12g, tục đoạn 12g; Ho hen mắc đờm, gia: cát cánh 12g, tía tô 16g, sinh khương 6g.

Loãng xương thể huyết ứ

Biểu hiện đau nhức các khớp, cơ thể mỏi mệt, da sạm, chất lưỡi tía, có thể có những điểm xuất huyết. Đau mình mẩy...

Phép trị: hoạt huyết, hóa ứ, tán kết, giảm đau. Dùng bài thuốc: xuyên khung 12g, hoàng kỳ 16g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, ngải diệp 10g, huyết đằng 12g, tục đoạn 12g, phòng sâm 12g, bạch truật 12g, xa tiền 12g, uất kim 10g, hương phụ tử chế 12g, trần bì 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

TRỊ ĐAU MẮT DO DỊ ỨNG BẰNG BÀI THUỐC TỐT

Mùa xuân, khí hậu ẩm ướt, mưa phùn, thời tiết cũng dần ấm lên là điều kiện thuận lợi cho các loại nấm mốc, vi khuẩn, virut sinh sôi, phát triển, cây cối đâm chồi nảy lộc, nở hoa. Phấn hoa lại là nguyên nhân gây nhiều bệnh dị ứng, trong đó có các bệnh về mắt . Xin giới thiệu cách điều trị đau mắt do dị ứng.
Mỗi ngày nên nhỏ mắt vài lần

Thuốc xông, đắp
Khi có hiện tượng viêm mi mắt, mắt ngứa, chảy nước, mắt bị sung huyết gây sưng đỏ nên sử dụng một số dược liệu chứa tinh dầu để xông hơi, như dùng bạc hà, phần trên mặt đất của cây bạc hà 50g, cúc hoa (cúc trắng hoặc cúc vàng đều được) khoảng 16g (bạc hà và cúc hoa tươi hay khô đều được); lá đại bi, lá cúc tần mỗi vị 50g; lá dâu tằm 50g. Tất cả cho vào nồi, đổ 300ml nước, đun sôi 5 - 10 phút, sau đó hơ nhẹ lên mắt bằng cách hướng luồng hơi vào nơi mắt đau. Cũng có thể dùng lá trầu không 20g hoặc lá dâu tằm, hoặc phối hợp hai thứ lá đó với nhau. Sau khi xông hơi gạn lấy nước lá xông lúc còn ấm, dùng khăn rửa nhẹ lên mắt. Ngày làm từ 1 - 2 lần.

Trường hợp mắt sưng đỏ, đau nhức nhiều có thể dùng các lá tươi sau, đắp lên mi mắt: phần trên mặt đất của cây rau má, lá rau muống, rửa sạch bằng nước muối loãng, giã nát, gói vào miếng vải gạc sạch, rồi đặt lên mi mắt, thấy khô, nóng lại lật bên kia. Cũng làm tương tự như vậy với lá cây dành dành, song với lá dành dành thì sau khi rửa sạch lại vò mạnh để lấy dịch đông như thạch, gói vào miếng giấy bản, rồi đặt lên nơi mắt bị sưng đau.

Thuốc uống trong

Khi mắt bị ngứa, đỏ dùng cúc hoa vàng, bạc hà, kinh giới, hạ khô thảo, tân di, cốc tinh thảo, lượng bằng nhau 6 - 8g, sắc hoặc hãm uống hằng ngày 2 - 3 lần vào lúc sau bữa ăn khoảng 1,5 - 2 giờ. Uống nhiều ngày đến khi các triệu chứng thuyên giảm.

Cũng có thể dùng cúc hoa, bạch tật lê mỗi vị 9g; phòng phong 5g để trị đau mắt do phong nhiệt.

Khi đau mắt kèm theo khô mắt, hoa mắt: dùng cúc hoa vàng, mẫu đơn bì, phục linh, trạch tả mỗi vị 12g; sơn thù du, hoài sơn mỗi vị 16g; thục địa 32g, sắc uống ngày 1 thang, uống liền 3 tuần lễ; hoặc làm hoàn với mật ong, uống ngày 2- 3 lần, mỗi lần 12 - 16g, sau bữa ăn khoảng 1,5 - 2 giờ.

Nếu mắt sưng đau, đỏ kèm theo có màng mộng, thị lực giảm: dùng thạch quyết minh, cúc hoa, cốc tinh thảo, mật mông hoa dưới dạng thuốc hãm hoặc sắc uống, ngày một thang, uống liền 3 - 4 tuần lễ.

Trường hợp mắt sưng đỏ kèm đau đầu, ù tai dùng cúc hoa, thạch quyết minh, sinh địa, bạch thược mỗi vị 15g; long đởm thảo 5g, sắc uống ngày một thang, uống liền 3 - 4 tuần lễ đến khi các triệu chứng thuyên giảm.

Với phương châm “phòng bệnh là chính”, cần dùng khăn sạch rửa mắt, không dùng chung khăn mặt, chậu rửa mặt. Hằng ngày nên nhỏ mắt vài lần bằng nước muối sinh lý natriclorua 0,9%, nếu mắt bị ngứa nhiều thì nhỏ cloroxit 0,4%. Bệnh nặng cần đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt.

TRÀ XANH GIÚP CHO NÃO ĐỐI PHÓ VỚI CÁC RỐI LOẠN VỀ GIẤC NGỦ

Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Đông y Việt nam cho biết, trà xanh có thể giúp ngăn chặn những hệ quả về nhận thức ở người bị chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA).

Trà xanh
Các polyphenol có ở trong trà xanh (GTP) có tác dụng chống stress oxy hoá ảnh hưởng tới mô não ở những vùng chi phối trí nhớ và học tập của những người bị OSA.

Kết luận này dựa trên thí nghiệm cho chuột uống nước có pha GTP. Chuột bị đặt ở tình trạng đói oxy ngắt quãng trong chu kỳ 12 tiếng “ban đêm”, tương tự tình trạng giảm oxy huyết ngắt quãng (IH) ở người bị OSA. Chuột uống nước trà xanh thực hiện tốt hơn bài tập mê cung so với chuột uống nước thường.

OSA ngày càng được thừa nhận là một tình trạng sức khoẻ nghiêm trọng và thường gặp với những biến chứng lâu dài bao gồm giảm khả năng học tập và tâm lý.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

QUẢ CÀ CHUA TỐT CHO SỨC KHỎE

Mặc dù có nguồn gốc từ Châu Mỹ song hiện nay cà chua đã là loại quả được sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Từ hai thế kỷ nay, trung bình mỗi người Pháp ăn tới 20kg cà chua mỗi năm. Vậy ăn nhiều cà chua là tốt hay xấu?Theo thông tin của trung tâm nghiên cứu và ứng dụng đông y việt nam mọi người sẽ biết những vấn đề thời sự hiện nay về loại quả này.
Nên ăn nhiều cà chua để giảm nguy cơ ung thư phổi và dạ dày
Tác dụng phòng chữa bệnh:

Cà chua giúp chống cảm nắng

Trên Tập san dinh dưỡng, tiễn sĩ Wilhelm Stahl và cộng tác viên đã chứng minh: Con người có thể làm giảm 40% cường độ cảm nắng nếu ăn mỗi ngày 40g nước xốt cà chua tức là 16mg hoạt chất lycopen kèm theo dầu ôliu trong 10 tuần.

Tuy việc bảo vệ da chưa cao (đạt chỉ số bảo vệ số 3) nhưng lại có lợi hơn các loại kem bôi da vì cà chua có tác dụng trên toàn bộ da của cơ thể. Nên sử dụng cà chua kết hợp với các tác nhân khác (quần áo, kem chống nắng).

Cà chua có tác dụng phòng ngừa nhồi máu động mạch (Infartus)?

Cũng trên Tập san dinh dưỡng (F. Nutr), nhà khoa học Sesso H nhận xét: Trên 40.000 phụ nữ ăn mỗi tuần ít nhất hai lần bánh pizza sẽ giảm được 30% nguy cơ bị nhồi máu động mạch vì trong loại thức ăn này có nhiều hoạt chất lycopen kèm theo dầu oliu.

Về thực nghiệm, hoạt chất lycopen trong cà chua bảo vệ cholesterol khỏi bị oxy hóa, nó còn làm cho máu ở dạng lỏng dễ lưu thông. Cà chua có trong thức ăn pizza còn ngăn cản tác dụng tiêu cực của các axit béo no và bột mì trắng. Pizza là một loại thức ăn của vùng Địa Trung Hải, nó làm giảm tỷ lệ bệnh tim mạch ở cư dân vùng này.

Trong cà chua có chất độc không?

Theo nhà khoa học Serge Aubert, cà chua có chứa một số alcaloid có độc tính và các saponin nhưng ở liều thấp nên lại có tác dụng tốt (diệt khuẩn và ngừa cholesterol ở mức cao). Cà chua xanh thường có chất độc ở mức cao hơn để bảo vệ cây cà chua chống vi khuẩn nấm và côn trùng.

Cư dân miền Địa Trung Hải thích ăn cà chua nửa chín, nửa xanh nên họ thích ứng được với alcaloid và saponin ở liều thấp.

Nên ăn cà chua sống hay chín?

Edward Giovannucci - nhà dịch tễ học trường Đại học Y Harvard (Boston, Hoa Kỳ) tiến hành nghiên cứu trên 48.000 đàn ông và nhận thấy những người ăn nhiều cà chua giảm được nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt từ 20 – 35%.

GS. Canada Mahyar Etminan đã kết luận: Muốn phòng ngừa ung thư tuyến tiền liệt nên ăn cà chua chín vì giảm được 20% nguy cơ đó, nếu ăn cà chua sống thì nguy cơ chỉ giảm được 10%.

Edward Giovannucci chỉ rõ: Tác dụng chống ung thư nói trên là lycopen, chất này dễ hấp thu hơn nếu cà chua được nấu chín. Theo ông: “Những người ăn nhiều cà chua còn giảm được tới 40% nguy cơ ung thư phổi và dạ dầy”.

Nên trở lại thói quen trồng cà chua theo mùa


Các nhà nghiên cứu Serge Aubert và Henri Laterrot ở Viện Nghiên cứu INRA cho biết: Các loại cà chua hiện đại là loại F1 vì sản xuất được nhiều, lại tránh được bệnh tật, cần ít ánh sáng nên trồng được cả mùa đông trong nhà kính. Người ta cố gắng cải tiến sự trình bày và bảo quản cà chua loại này nhưng tính cảm quan không giữ được. Khoa học nông nghiệp ở Réhovot (Israel) đã thành công trong việc lai tạo ra cây cà chua đột biến không bao giờ chín. Nếu lai giống cà chua này với giống cà chua bình thường, quả cà chua chín chậm, mềm hơn thì thời gian bảo quản được lâu hơn. Nhược điểm của cà chua là mùi thơm và mầu bị ảnh hưởng do sự tổng hợp carotenoid bị chậm hay không hoàn toàn.

Từ 17 năm nay, Viện INRA cũng đã nghiên cứu, lai tạo, lưu ý đến mùi vị, quả to, chống được bệnh tật song phải 2 – 3 năm nữa loại quả này mới được bán trên thị trường và sẽ đa dạng về hình dáng, kích thước, mầu…

CHỮA BỆNH BẰNG THUỐC NAM

Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Đông y Việt nam xin giới thiệu một số món ăn bổ Tỳ, bổ Phế, bổ Thận rất hiệu quả mà chúng ta cần biết.Những món ăn này rất tốt cho sức khỏe.
Nấm mèo và chân gà hầm với bún tẩu ăn rất bổ cho tỳ âm
MÓN ĂN BỔ TỲ

Theo Đông y, tỳ và vị (dạ dày) có liên hệ biểu lý rất mật thiết với nhau.Tỳ tốt ắt vị cũng được thư thái, giúp cho chúng ta ăn ngon, ngủ khoẻ, rất bổ cho thể tạng.

-Gồm: Bạch truật 20g, Hoài sơn 20g, hạt Sen 20g, Ý dĩ 10g, đem hấp vào nồi cơm hoặc hấp cách thuỷ mà dùng, bổ cho tỳ.

- Chân gà, Nấm mèo hầm với bún tẩu ăn, rất bổ cho tỳ âm.

MÓN ĂN BỔ PHẾ

- Phổi heo 1 bộ, vị thuốc Cát cánh 20g và Từ uyển 5g. Phổi heo ninh nhừ rồi cho hai vị thuốc trên vào nấu tiếp, khi cạn cho thêm một bát con nước đun một lúc nữa rồi bắc xuống,nên uống lúc còn nóng, uống làm nhiều lần trong ngày, đại bổ cho phổi, chữa ho ở các cụ già rất hiệu nghiệm.

MÓN ĂN BỔ THẬN


- Dái dê hay bò 1 bộ, Hột gà 3 cái. Dái dê hay bò giã thật nhỏ trộn đều với Hột gà, tra mắm muối vừa đủ rồi chưng cách thuỷ mà ăn, đại bổ cho thận.

- Dái dê 1 bộ rửa sạch, Hành cọng giã nát, cho thêm ít hồ tiêu, mì chính, trộn đều, ướp một vài giờ, cho vào kẹp nướng chín trên than củi hồng. Trét thêm bơ hoặc Mật ong nướng cho vàng, ăn rất ngon và bổ cho tạng thận.

- Cật dê một cặp (dê rừng càng tốt, kể cả Cật heo và Cật bò cũng được), Đỗ trọng bắc 8g, Ngưu tất 8g, Câu kỷ tử 8g, Dâm dương hoắc 4g, gia vị vừa đủ, đem chưng cách thuỷ cho nhừ mà ăn. Một tháng có thể dùng vài bộ, công hiệu bổ thận như thần dược.

- Gà ác lông một con (mổ dao tre cho hay), Phòng đẳng sâm, Câu kỷ tử, Hắc kỳ, lượng bằng nhau, mỗi vị 12g, chưng cho nhừ, thêm chút rượu, Gừng, ăn đại bổ cho thận, cường dương tráng khí.

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

CÂY CHÀM MÈO-VỊ THUỐC QUÝ TRONG DÂN GIAN

Chàm mèo là cây thuốc quý của đồng bào dân tộc vùng cao vì lá chàm để lên men và ngâm nước vôi sẽ cho màu xanh lam (tên dân dã là màu chàm) dùng để nhuộm vải và quần áo, đặc trưng cho y phục của người dân ở đây. Và cũng từ lá, bột chàm được chiết xuất và sử dụng làm thuốc chữa bệnh phổ biến.

Chàm mèo
Chàm mèo (strobilanthe cusia (nees.) O.Kuntze) thuộc họ ô rô (Acanthaceae), tên khác là chàm nhuộm, chàm lá to, đại lam, mã lam, người Tày gọi là mạy ót, tên Thái là co sơm, tên Dao là tần gàm, là một cây nhỏ sống lâu năm, cao 0,4-0,8m. Thân nhẵn, phình lên ở các mấu. Lá mọc đối, hình bầu dục hay hình trứng, dài 8-25cm, rộng 3,5-11cm, gốc thuôn, đầu nhọn mép, khía răng tròn. Cụm hoa mọc ở kẽ lá, thành bông, lá bắc dạng lá, lá đài mảnh, tràng hoa hình trụ hơi cong, phía trên loe ra xẻ 5 cánh, màu lam tím hay tím hồng, nhị 4, 2 dài, 2 ngắn, bầu nhẵn. Quả nang hẹp dài.

Bộ phận dùng làm thuốc của chàm mèo là lá, thu hái vào mùa hè – thu, dùng tươi hoặc phơi sấy khô. Dược liệu chứa 0,4-1,3% indican khi thủy phân sẽ cho indoxyl. Chất này bị ôxy hóa sẽ chuyển thành indigotin, một tinh thể hình kim màu xanh lam.

SÂM TỐ NỮ:THẦN DƯỢC GIÚP TĂNG TRƯỞNG VÒNG 1 Ở PHỤ NỮ

Sâm tố nữ hay còn gọi là Sắn dây củ tròn (tên khoa học: Pueraria mirifica), được biết đến từ lâu với khả năng hồi xuân đặc biệt ở nữ giới và chỉ được tìm thấy phần lớn ở những vùng cao phía bắc Thái Lan, Mi-an-ma.

Sắn dây củ tròn
Ở Thái Lan, Sâm tố nữ (Pueraria mirifica) đã được sử dụng từ rất lâu với mục đích làm thuốc bổ và làm đẹp cho phụ nữ. Từ năm 2000, các nhà khoa học Thái Lan, Nhật Bản, Anh Quốc đã tiến hành nghiên cứu các hoạt tính sinh học của chiết xuất từ củ Sâm tố nữ dưới dạng cao và xác định cao Sâm tố nữ có chứa các phyto-estrogen quý có tác dụng tương tự nội tiết tố nữ estrogen: kích thích sự phát triển của các tuyến ngực và mô ngực do đó giúp ngực nở và săn chắc tự nhiên, chống lão hóa mạnh như kích thích mọc tóc, chống bạc tóc sớm, giúp da căng mịn, giảm nếp nhăn và tàn nhang; giúp vóc dáng eo thon, giảm nguy cơ béo phì và ung thư…

Các phyto-estrogen đó là các Isoflavon như genistin, daizein…Đặc biệt là chất miroestrol và deoxymiroestriol, những chất này chỉ được tìm thấy duy nhất ở Sâm tố nữ. Các nhà khoa học cũng chứng minh được đây là hai chất có hoạt tính estrogen mạnh gấp 100 lần so với các phyto-estrogen từ đậu tương (isoflavon) và mạnh nhất trong các loài thực vật. Mặc dù đã có nhiều báo cáo cho thấy các loài Sắn dây khác cùng họ với Sắn dây củ tròn (Sâm tố nữ) cũng có Isoflavon, nhưng những giống cây này có hình thái sinh vật khác và không có các đặc tính tốt như những nghiên cứu đã tìm thấy ở loài Pueraria có xuất xứ từ Thái Lan.

Trong một thử nghiệm lâm sàng được thực hiện tại Thái Lan và Anh Quốc, đã xác định được tỷ lệ phụ nữ sử dụng bột chiết xuất từ củ Sâm tố nữ (liều 800mg/ngày trong 2 tháng) có hiệu quả làm nở ngực là 82% và săn chắc ngực là 88%.

Các nhà khoa học cũng so sánh hoạt tính làm nở ngực của Sâm tố nữ với một số loại thực vật khác như mầm Đậu tương, Cát căn, Cọ lùn Saw palmetto, Hồ lô ba Fenugreek, Đương quy, Rong pacific, Damiana, Wild yam, hoa Houblon, Cỏ linh lăng… Kết quả cho thấy cao chiết xuất từ củ cây Sâm tố nữ có hoạt tính cao hơn và hiệu quả hơn cả.

Các thử nghiệm cũng chứng minh được việc sử dụng Pueraria mirifica trên người là rất an toàn với liều lượng cũng như thời gian hợp lý. Bởi vậy, hiện nay cây này được nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam sử dụng phổ biến với mục đích làm nở và săn chắc ngực tự nhiên cho nữ giới, đặc biệt là những chị em có ngực nhỏ, phụ nữ sau sinh và cho con bú …

CÂY SA KÊ CHỮA BỆNH VIÊM GAN , VÀNG DA

Cây sa kê có tên khoa học là Artocarpus altilis, thuộc họ dâu tằm (Moraceae), đây là loại cây được trồng nhiều ở miền Tây Nam bộ. Nhiều bạn đọc hỏi về việc dùng cây sa kê trị bệnh. Theo hướng dẫn của lương y Phạm Như Tá, các bộ phận như trái, rễ, lá, vỏ và cả nhựa của cây sa kê đều có nhiều dược tính, nên được y học, dân gian dùng làm các bài thuốc trị bệnh. Theo Đông y, thịt của quả sa kê có tác dụng bổ tỳ, ích khí. Còn hạt sa kê thì có tác dụng bổ trung ích khí, lợi trung tiện. Vỏ cây có tác dụng sát trùng. Còn lá sa kê có tác dụng kháng sinh, tiêu viêm lợi tiểu. Nhưng lưu ý, người không có bệnh thì không nên tự ý dùng lá sa kê nấu uống thường xuyên.

Sa kê
Một số cách áp dụng

Theo lương y Phạm Như Tá, lá sa kê thường được đốt thành than, tán mịn, phối hợp với dầu dừa và nghệ tươi, giã nát, làm thành bánh để đắp chữa mụn rộp. Hoặc dùng lá sa kê và lá đu đủ tươi, lượng bằng nhau, giã với chút vôi (vôi ăn trầu) cho đến khi có màu vàng dùng để đắp chữa sưng háng, mụn nhọt, áp xe.
Những người bệnh gout hay bị sỏi thận có thể lấy lá sa kê (loại lá đã già, còn tươi) độ 100g, quả dưa leo 100g, cỏ xước khô 50g. Cho cả 3 loại vào nồi nấu lấy nước dùng.

- Những người bị viêm gan vàng da, có thể dùng lá sa kê còn tươi chừng 100g, diệp hạ châu tươi 50g, củ móp gai tươi 50g, cỏ mực khô 20-50g. Tất cả đem nấu chung để lấy nước dùng trong ngày.

- Những người bị bệnh đái tháo đường (tiểu đường) dạng 2 có thể dùng lá sa kê (loại lá đã già) chừng 100 gr, quả đậu bắp tươi 100g, lá ổi non 50g. Tất cả đem nấu chung để lấy nước uống. Có thể uống thường xuyên.

- Khi bị đau răng, để chữa cơn đau tạm thời trước khi đến khám ở nha sĩ, có thể lấy rễ cây sa kê đem nấu nước ngậm và súc miệng.

Những người bị tình trạng tăng huyết áp dao động có thể dùng lá sa kê vàng (lá vừa rụng), lấy 2-3 lá, rau bồ ngót tươi 50g, lá chè xanh tươi 20g, đem tất cả nấu chung lấy nước uống trong ngày.

TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA CÂY GỪNG GIÓ

Cây gừng gió có tên khoa học Zingber zerumbert sin – Zinbiberaceae, họ gừng. Các tên gọi khác như: gừng rừng, ngải mặt trời…

Gừng gió còn có tên gọi khác là gừng rừng
- Người cao tuổi bị cảm do mắc mưa: 50gr lá gừng gió tươi, 50gr lá khuynh diệp, 10gr vỏ quít phơi khô sắc trong 1.000ml nước. Sau khi sôi 10 phút, xông đổ mồ hôi, lấy xác chà xát khắp thân mình (ngực, lưng), lau khô, đắp chăn ấm. Nghỉ dưỡng 20 phút.

- Phụ nữ sau hộ sản bị rong kinh bất thường, lấy 10gr củ gừng, 5gr lá khoai mỡ, 10gr hoa khoai mỡ, sắc trong 3 chén nước còn nửa chén. Uống 2 lần/ngày, liên tục 3 ngày.

- Phụ nữ sau sinh ăn không ngon miệng: 50gr ngọn bí đỏ, 50gr cà chua chín (bỏ hột), 5gr củ gừng gió, 50gr thịt cá hồng (bỏ xương), 1/3 muỗng bột nêm, ¼ muỗng đường cát, 5gr củ hành tây hoặc đầu hành lá. Nấu với 500ml nước còn 300ml, chia làm 2 phần ăn trưa và chiều. Ăn cách nhật.

- Nam giới trung niên bị mỡ trong máu, ngừa biến chứng ung bướu: 20gr củ gừng gió, xắt sợi, 10gr lá gừng gió xắt nhuyễn, táo tàu khô 10 quả, 30gr nấm mộc nhĩ đen, 30gr nấm bào ngư, rùa đen 300-500gr (rùa sống thả vào nước để bài tiết hết phân, nước tiểu, vớt ra, lột bỏ mai, cạo sạch da, tỉa móng nhọn). Nấu tất cả trong 1 lít nước còn 500ml. Chia làm 5 phần, ăn trong ngày. Cách 3 ngày ăn 1 lần, liên tục 10 lần.

- 50gr củ gừng gió, 20gr lá ngải cứu, cả hai xắt nhuyễn thành sợi, 50gr gạo lức rang vừa vàng sẫm, 2 củ hành 20gr, 15gr hành lá xắt nhỏ, 200-350gr lươn (bỏ vào giấm cho tiết nhớt, mổ bỏ ruột, chỉ máu, không bỏ đuôi) nêm gia vị, nấu trong 800ml nước còn 300ml. Chia làm 2 phần (ăn trưa, chiều), cách 2 ngày/lần, liên tục 15 lần để trị dứt suy thận, xuất tinh nhanh và đau nhức cột sống, khớp chậu. Có thể dùng cho phụ nữ tiền mãn kinh hay bị đau bụng, nhức mỏi tứ chi và nửa đầu.

- Trẻ, già ăn khó tiêu, buồn nôn do ngộ độc thức ăn: 30-50gr gừng gió giã nhuyễn, 30gr bầu non và 1 quả chanh muối, cho vào 200ml nước, đun sôi 15 phút, vớt bỏ bã, uống nước cách nhau 5 phút sẽ tiêu hóa tốt, ợ, đánh rắm, thông tiểu tốt. Nằm nghỉ 10 phút.

CÂY MỘC HƯƠNG:CHỮA BỆNH VỀ ĐƯỜNG TIÊU HÓA

Mộc hương là cây thảo sống lâu năm, rễ mập. Thân hình trụ rỗng, cao 1,5 – 2m. Vỏ ngoài màu nâu nhạt. Lá mọc so le, phiến chia thùy không đều ở cuống, dài 12 – 30cm, mép khía răng, có lông ở cả hai mặt nhất là ở mặt dưới cuống lá dài 20 – 30cm. Các lá ở trên thân nhỏ dần và cuống cũng ngắn dần, lá trên ngọn hầu như không cuống; hầu như ôm lấy thân. Cụm hoa hình đầu, màu lam tím. Quả bế hơi dẹt, màu nâu nhạt lẫn những đốm màu tím.

Cây mộc hương
Cây được nhập trồng và thích nghi với một số vùng cao của nước ta như Sapa, Tam Đảo, Đà Lạt và vùng phụ cận. Trồng một năm thì thu hoạch, có thể qua năm vào tháng 1, 2 khi cây bắt đầu tàn lá, thân khô và lụi dần. Đào bằng cuốc để tránh gãy nát, cắt bỏ phần mấu thân, lấy củ rửa sạch, phơi hay sấy khô .

Mộc hương có vị cay, đắng, tính ấm; có tác dụng hành khí chỉ thống, kiện tỳ tiêu tích; nói chung nó có tác dụng làm tan ứ trệ, hòa tỳ vị, đuổi phong tả, tả khí hỏa, phát hãn, giải cơ biểu. Còn có tác dụng lý khí, dùng để hành khí giảm đau, kiện tỳ, chỉ tả. Loại nướng có tác dụng hòa hoãn hành khí, trợ sức cho đại tràng, chỉ tả lỵ.

Thường dùng trị mọi chứng đau, trúng khí độc bất tỉnh, tiểu tiện bế tắc, đau bụng, khó tiêu, trướng đầy, gây trung tiện, ngừng nôn mửa, tiết tả đi lỵ.

Những bài thuốc đã được ứng dụng

- Chữa đi lỵ mạn tính : Mộc hương, hoàng liên bằng nhau, tán bột làm viên, mỗi lần uống 0,2 – 0,5g, uống ngày 2 – 3 lần.

- Chữa tiêu chảy trẻ em do tích trệ thức ăn: Mộc hương, bạch truật, mạch nha, chỉ thực, hoàng liên, sơn tra, trần bì, thần khúc, mỗi vị 12g; liên kiều, sa nhân, la bạc tử mỗi vị 8g. Tán nhỏ làm viên. Ngày uống 4 – 8g.


- Chữa lỵ cấp tính: Mộc hương 8g, hoàng liên 20g, khổ sâm, bạch thược mỗi vị 12g, chỉ xác 8g, cam thảo 4g. Tán bột làm viên hoàn. Ngày uống 10 – 20g;

- Chữa viêm đại tràng mạn tính thể co thắt, rối loạn tiêu hóa kéo dài: Mộc hương 6g, bạch truật, hoài sơn, ý dĩ, phòng đẳng sâm mỗi vị 12g, phụ tử chế 8g, can khương, chỉ thực, thương truật mỗi vị 6g, xuyên tiêu, nhục quế mỗi vị 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Sau 5 thang cần khám lại.

- Chữa viêm đại tràng mạn tính do amip co cơ tái phát cấp diễn: Mộc hương, bạch truật, phòng đẳng sâm, Ý dĩ mỗi vị 12g, hoàng bá, hoàng liên, uất kim, xuyên khung mỗi vị 8g, chỉ thực 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Liệu trình 5 – 10 thang.

- Chữa viêm loét dạ dày tá tràng: Mộc hương 6g, đương quy, bạch thược, phục linh, kỷ tử, đại táo mỗi vị 12g; xuyên khung 10g; a giao, táo nhân mỗi vị 8g; ngũ vị tử, trần bì mỗi vị 6g, gừng 2g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 5- 10 thang.


Các bài thuốc trên khi sử dụng cần được bắt mạch kê đơn tại các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền có giấy phép hành nghề. Tùy theo thực trạng của bệnh nhân mà thầy thuốc cho liệu trình điều trị .

HOA THIÊN LÝ CHỮA TRĨ HIỆU QUẢ

Thiên lý là một loại cây rất thân thuộc với người dân Việt Nam, là một cây thuốc quý không chỉ cho ta bóng mát hương thơm, là món ăn khá phổ biến trong các gia đình Việt Nam mà còn được dùng làm thuốc chữa bệnh trĩ và sa dạ con hiệu nghiệm.

Hoa thiên lý

Thiên lý (còn gọi là câu hoa lý, hoa thiên lý, dạ lài hương) là một loại cây nhỏ, mọc leo, thân hơi có lông, nhất là ở những bộ phận còn non. Lá hình tim, thuôn, đầu lá nhọn, có lông trên các gân lá. Hoa khá to, nhiều, màu vàng xanh lục nhạt, rất thơm, thành xim tán, có cuống to, hơi có lông, dài 10-20mm, mang nhiều tán mọc mau liền với nhau.

Cây Thiên lý được trồng khắp nơi ở Việt Nam, nhiều nhất tại miền Bắc để làm cảnh và lấy hoa, lá nấu canh ăn. Trong lá và thân Thiên lý có chất ancaloid (Đỗ Tất Lợi, Ngô Văn Thu, Hà Nội, 1962). Trong cuộc sống hằng ngày, người ta thường chỉ dùng hoa và lá Thiên lý non để nấu canh ăn cho mát và bổ. Lá tươi của cây Thiên lý chữa bệnh trĩ (lòi dom) rất công hiệu. Thầy thuốc đã chữa cho nhiều người khỏi bệnh, kể cả những người bị trĩ cấp độ 3 có búi trĩ lòi hẳn ra ngoài. Bài thuốc này đặc biệt công hiệu cho những người bị trĩ do nội nhiệt, do uống rượu bia nhiều dẫn đến đi ngoài có máu, rát hậu môn.

Cách chữa trị như sau: Lá Thiên lý 100g (một nắm to), muối ăn 5g (thìa cà-phê). Hái lá Thiên lý non và lá bánh tẻ, rửa sạch, giã nhỏ với muối, thêm chừng 30ml nước đun sôi còn ấm, lọc qua vải gạc. Dùng nước này tẩm vào bông đắp lên chỗ dom đã rửa sạch bằng thuốc tím. Băng như đóng khố. Ngày làm một, hai lần. Kết hợp với uống 3 đến 4 bát nước lá Thiên lý tươi một ngày. Trong vòng 3 – 4 ngày thường khỏi. Bài thuốc này còn có thể chữa bệnh dạ con: cũng dùng như trên. Thường lưu ý: bắt buộc phải dùng tươi, không được nấu chín. Với những người cơ thể hàn thì không được uống mà chỉ đắp bên ngoài.

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

CHỮA BỆNH BẰNG CÂY THUỐC LÀO

Theo kinh nghiệm dân gian, khi bị đứt tay, đứt chân, lấy một ít sợi thuốc lào vê tròn rồi đắp trực tiếp lên chỗ đứt, máu sẽ cầm ngay. Nước điếu lấy ở điếu cầy được bôi chữa hắc lào.

Cây thuốc lào
Có thể xử trí ban đầu như sau:

Chữa rắn cắn: Lấy 1 cục thuốc lào to bằng đầu ngón tay nhai nuốt nước, bã đắp. Nếu không có sẵn sợi thuốc lào, uống 1 chén nước điếu hoặc cạo lấy cao bám trong xe điếu bôi, đắp vào vết cắn.

Chữa vết thương: Thuốc lào (20%) giã nát đắp. Hoặc thuốc lào (20%), Lá tre non (40%) phơi thật khô, tán thành bột mịn, gạo tẻ (40%) rang giòn, tán thành bột mịn. Trộn đều 2 bột rắc lên vết thương, băng lại. Sau 2 – 3 ngày thay thuốc một lần.

Chữa sâu quảng: Lá thuốc lào (50g), Quả hồi (50g), Măng tre (100g), Lá chanh (50g). Tất cả rửa sạch, giã nhỏ, đắp.

Lá thuốc lào giã nát lấy nước bôi chữa bỏng. Nấu nước tắm rửa để chữa ghẻ cho súc vật. Lá thuốc lào tươi, thái nhỏ rải xuống dưới chiếu nằm có tác dụng trừ rệp. Lá thuốc lào sắc lấy nước đặc, phun để diệt sâu hại cây trồng.

Phòng đỉa cắn: Thuốc lào (10g), Vôi tôi (20g), Bồ hóng (10g) giã nhỏ để bôi

Rất mong các bạn có thói quen hút thuốc lào, sau khi thấy rõ tác hại của việc hút thuốc lào sẽ “chôn điếu đi” mà không “đào điếu lên” nữa. Có thế mới tăng thêm tuổi thọ, gìn giữ được sức khoẻ.

VỊ THUỐC QUÝ-NẤM KIM CHÂM

Nấm kim châm (NKC) còn gọi là nấm kim tuyến. Ở Việt Nam quen gọi NKC. Nấm có 2 màu: màu nâu vàng hoặc vàng nhạt gọi là NKC (kim là vàng). Nấm có màu trắng gọi là nấm ngân châm (ngân là bạc). Ở Hà Nội có bán NKC Hàn Quốc để trong túi nilông trông như những cọng giá dài trắng khoảng dưới 10cm và có nụ tròn ở đầu.

Nấm kim châm
Trong NKC có 16 loại axít amin trong đó có 8 loại cần thiết cho cơ thể con người, trong đó có nhiều lysin và kẽm giúp trí nhớ và trí lực của trẻ phát triển, cho nên được gọi là “nấm tăng trí nhớ của trẻ” và “nấm ích trí”. Do có nhiều kali nên NKC rất thích hợp với người tăng huyết áp, phòng chữa tai biến mạch máu não. NKC giảm hàm lượng cholesterol và thúc đẩy nhu động ruột và dạ dày nên chống béo phì. Thường xuyên ăn NKC có thể phòng và trị bệnh gan và bệnh loét dạ dày. NKC còn có tác dụng chống mệt mỏi, tăng sức đề kháng, chống khuẩn tiêu viêm, bài tiết các kim loại nặng khỏi cơ thể...

Một số món ăn, bài thuốc có sử dụng NKC

- Thanh nhiệt giải độc, hạ huyết áp: NKC tươi 250g, giá đậu xanh 150g, gia vị, muối, xì dầu, mì chính, gừng, dấm, tiêu bột, dầu thơm. NKC bỏ gốc rửa sạch, giá đậu đãi vỏ rửa sạch, chần giá và nấm bằng nước sôi vớt ra để ráo, sau đó trộn với các gia vị trên.

- Bệnh gan, suy yếu tình dục: NKC tươi 100g, tôm nõn 50g, gia vị: lá cải thìa 200g, nước dùng gà 750g, dầu rán, dầu thơm, muối, mì chính, hành, gừng. NKC bỏ gốc rửa sạch, lá cải thìa rửa sạch thái sơ. Cho dầu vào chảo đun nóng, đổ tôm nõn, hành, gừng, lá cải vào xào qua rồi đổ nước dùng gà vào cùng với NKC, muối đun sôi. Cuối cùng nêm mì chính, dầu thơm là được.

CHỮA ĐAU NHỨC BẰNG CÂY CÚC TẦN

Cúc tần còn có tên khác là cây lức, từ bi, phật phà (Tày), là loại cây bụi, cao 1-2m. Cành mảnh, có lông sau nhẵn. Lá mọc so le, màu lục xám, mép khía răng, gần như không cuống. Hoa tím nhạt, hình đầu, mọc thành ngù ở ngọn. Quả nhỏ, có cạnh. Toàn cây có lông tơ và mùi thơm. Trên cây thường có dây tơ hồng mọc và sống ký sinh.

Cây cúc tần
Cây mọc hoang và được trồng làm hàng rào ở khắp nơi. Toàn cây (lá, cành, rễ) đều có thể dùng làm thuốc. Lá thường dùng tươi (hái lá non và lá bánh tẻ) thu hái quanh năm, cành và rễ thường dùng khô. Theo nghiên cứu lá chứa 2,9% protein. Toàn cây có acid chlorogenic, tinh dầu.

Theo y học cổ truyền, cúc tần có vị đắng, cay, thơm, tính ấm. Công dụng tán phong hàn, lợi tiểu, tiêu độc, tiêu ứ, tiêu đờm, sát trùng, làm ăn ngon miệng, giúp tiêu hoá. Thường dùng chữa cảm sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, thấp khớp, đau lưng, nhức xương, chấn thương,…

Một số đơn thuốc có sử dụng cúc tần

Chữa cảm sốt không ra mồ hôi, nhức đầu: Lá cúc tần tươi 2 phần, lá sả một phần, lá chanh một phần (mỗi phần khoảng 10g) đem sắc với nước, uống khi còn nóng. Cho thêm nước vào phần bã đun sôi, dùng để xông cho ra mồ hôi, có tác dụng giảm sốt, giải cảm.

Chữa đau mỏi lưng: Lấy lá cúc tần và cành non đem giã nát, thêm ít rượu sao nóng lên, đắp vào nơi đau ở hai bên thận. Thấp khớp, đau nhức xương: Rễ cúc tần 15-20g, sắc nước uống. Có thể phối hợp với rễ trinh nữ 20g, rễ bưởi bung 20g, đinh lăng 10g, cam thảo dây 10g, sắc uống. Dùng 5-7 ngày.

Chữa đau đầu do suy nghĩ nhiều, tinh thần căng thẳng: Cúc tần 50g, hoa cúc trắng 50g (xé nhỏ), đu đủ vừa chín tới 100g, óc lợn 100g. Cho cúc tần, hoa cúc trắng, đu đủ vào nồi, thêm 1 lít nước đun sôi. Sau đó cho óc lợn vào đun thêm 20 phút cho nhừ là ăn được. Ăn nóng trước bữa cơm, 2 lần/ngày, ăn liền 1 tuần.

Chữa ho do viêm khí quản: 20g cúc tần già rửa sạch, băm nhỏ, 2 nắm gạo, 3g gừng tươi, cắt nhỏ, 50g thịt lợn nạc băm nhuyễn. Tất cả đem nấu cháo chín nhừ. Ăn nóng khi đói, ngày 3 lần, ăn liên tục 3 ngày sẽ đỡ. Chữa chấn thương bầm tím: Lấy một nắm lá cúc tần rửa sạch, giã nát nhuyễn đắp vào chỗ bầm tím sẽ mau lành.

MÓN ĂN CỰC KỲ TỐT CHO NGƯỜI SAU PHẪU THUẬT

Trong y học cổ truyền, có một phương thức nuôi dưỡng bệnh nhân sau mổ rất độc đáo, đó là các món ăn - bài thuốc (dược thiện).

Món ăn rất tốt
Sau phẫu thuật, đặc biệt là các cuộc mổ lớn và vừa, người bệnh thường lâm vào tình trạng suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể bởi nhiều lý do như: trước mổ không được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, trong mổ mất máu và tiêu hao năng lượng quá nhiều, sau mổ công năng các tạng phủ, đặc biệt là hệ thống tỳ vị hay bị rối loạn làm ảnh hưởng đến việc tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng, ngoài ra, tình trạng nhiễm khuẩn, trạng thái căng thẳng thần kinh do đau đớn và mất ngủ cũng góp phần quan trọng tạo nên sự suy nhược. Bởi vậy, ngoài thuốc men và dịch thể các loại, việc nuôi dưỡng người bệnh bằng đường ăn uống có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Chim cút hầm hoàng kỳ.

Trong y học cổ truyền, có một phương thức nuôi dưỡng bệnh nhân sau mổ rất độc đáo, đó là các món ăn - bài thuốc (dược thiện). Dựa trên cơ sở “biện chứng luận trị” đối với từng người bệnh, với cấu trúc phối hợp hài hòa giữa thực phẩm và dược phẩm, biện pháp này không những cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng cho cơ thể người bệnh mà còn có tác dụng hỗ trợ tích cực cho trị liệu. Xin được giới thiệu một số bài thuốc điển hình để độc giả có thể tham khảo và vận dụng.

CÔNG DỤNG CHỮA BỆNH CỦA TÍA TÔ

Tía tô là loại rau gia vị phổ biến đối với người Việt Nam. Đồng thời, theo y học cổ truyền tía tô còn là một vị thuốc chữa bệnh và phòng bệnh tuyệt vời mà có thể bạn chưa biết.

Tía tô
Theo PGS. TS. Trần Công Khánh, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây thuốc dân tộc cổ truyền, cho biết, dưới góc độ Đông y, hương vị của tía tô được đánh giá là sự pha trộn giữa hồi hương, cam thảo, quế và bạc hà sát khuẩn. Chính vì vậy, tía tô được y học cổ truyền xếp vào loại giải biểu, thuộc nhóm phát tán phong hàn, chữa bệnh bằng cách cho ra mồ hôi, giải cảm, khỏi sốt. Khi cộng với hành (một thứ gia vị cũng kích thích tăng tiết dịch vị) thì cháo hành - tía tô sẽ có tác dụng giải cảm cho những người bị cảm.

Ngoài ra, lá tía tô non khi vò ra đem sát vào các mụn cơm vài lần thì mụn cơm sẽ bay mất. Dầu được ép từ hạt tía tô cũng có thể làm dầu ăn và làm thành một thứ thuốc.

Một số bài thuốc từ tía tô:

- Chữa mẩn ngứa, làm đẹp da: Vò lá tía tô cho vào nước tắm có thể chữa mẩn ngứa, làm đẹp da, phần bã và lá có thể đắp vào vùng da bị ngứa.

- Chữa cảm, ho: Khi bị cảm, ho có thể dùng 150g lá tía tô tươi, cùng với 3 củ hành tươi thái nhỏ cho vào cháo ăn lúc nóng.

- Chữa cảm lạnh: Lá tí tô nấu với nước uống hoặc dùng lá tía tô cùng với kinh giới, hương nhu, lá sả, lá tre nấu với nước để xông.

- Chữa cảm sốt, nhức đầu, ngạt mũi: Hạt tía tô 120g, vỏ quýt 8g, cam thảo nam 10g, gừng tươi 3 lát sắc với nước uống nóng 1 lần/ngày.

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

QUẢ LỰU

Cây lựu còn có tên: thạch lựu, thừu lựu. Tên khoa học: Punica Gracinatum L. Họ lựu Punicaceae.

Quả lựu-vị thuốc đa năng
Ở Việt Nam, cây lựu được trồng nhiều để lấy quả ăn, làm thuốc và làm cảnh. Cả cây lựu đều làm thuốc chữa bệnh. Từ xưa quả lựu được ca tụng về cả 2 phương diện dinh dưỡng và trị liệu. Thành phần hóa học: dịch quả chứa acid citric, ac.malie, các đường glucoza, fructoza, mantoza…Vỏ quả và vỏ rễ chứa nhiều tanin, granatin, hoạt chất peletierin, izopeletierin, ac.betulic, ac.usolic và iso quercetin. Nước ép lựu là nguồn kali, vitamin C và các chất chống ôxy hoá quý. Theo Đông y vỏ quả vị chua, chát, tính ấm, chỉ tả, chỉ huyết, khử trùng. Vỏ thân, vỏ rễ vị đắng chát, tính ấm, sát trùng. Vỏ thân rễ dùng tẩy sán.

Một số cách dùng quả lựu chữa bệnh:

- Lao phổi, viêm phế quản mạn tính ở người già: quả lựu tươi chưa chín 1 quả, bóc lấy hạt ăn vào buổi tối trước khi đi ngủ.

- Trẻ em có tích trệ ăn không tiêu, có ký sinh trùng đường ruột dùng nước ép hạt lựu thêm đường và nước cho uống. Tuy hiệu quả kém nhưng an toàn hơn vỏ rễ lựu.

- Phòng chữa cam tích ở trẻ em (thực tích, thực trệ, tiêu chảy…): lấy quả lựu muối nấu cháo cho trẻ ăn.
Quả lựu muối làm như sau: hái quả lựu chín tốt nhất là những quả chín nứt vỏ, cho vào thố (vại, lọ…), rắc muối, đậy kín đem phơi nắng, mỗi ngày trở vài lần. Một thời gian vỏ lựu mềm, nước từ trong quả lựu thoát ra ngoài hoà lẫn nước muối. Tiếp tục làm như vậy cho đến khi khô nước thì lấy lựu ra cất vào hũ. Cất càng lâu công hiệu càng cao.

- Thanh thử, giải nhiệt, ngừa ra nhiều mồ hôi vào mùa hè - nấu canh cho một số hạt lựu tươi. Canh này còn phòng chữa chứng đau đầu ở phụ nữ và giúp trẻ em tiêu hoá tốt.

- Thực tích (do ăn nhiều thịt) khó tiêu, trĩ và ra máu, phụ nữ bạch đới, kinh nguyệt quá nhiều: dùng quả lựu muối nấu với canh thịt heo ăn.

- Viêm loét trong miệng: lựu tươi 1-2 quả, lấy hạt giã nát, ngâm vào nước sôi rồi lọc lấy nước để nguội ngậm nhiều lần trong ngày.

- Tiêu hoá kém, đau bụng, tiêu chảy: lựu 2-3 quả bỏ vỏ lấy cùi với một bát rưỡi nước sắc lấy nửa bát rồi đổ vào một ít mật ong, uống làm 2-3 lần trong ngày.

- Đại tiện ra máu, tiêu chảy kéo dài: ruột quả lựu sấy khô, tán bột. Mỗi lần 10-12g với nước cơm. Hoặc 1 quả lựu tươi nguyên vỏ giã nát sắc với mấy hạt muối để uống.

- Sâu răng: vỏ thân cây lựu hoặc vỏ quả sắc đặc ngậm nghiêng về phía răng sâu.

- Khô miệng, viêm họng, loét lưỡi: bóc lấy hạt của 1-2 quả lựu tươi nhai chậm kỹ nuốt nước.

- Trĩ loét chảy máu: vỏ quả lựu 50 - 100g sắc lấy nước xông rửa hậu môn.

- Nước ngâm rửa khi bị đới hạ, khí hư: vỏ quả lựu 30g, phèn chua 10g sắc lấy nước ngâm rửa.

- Ghẻ ngứa: vỏ quả lựu sắc để ngâm, tán bôi lên chỗ tổn thương - có thể ngâm vào rượu hoặc cồn để dùng hoặc lá lựu tươi giã nhuyễn xoa xát.

Kiêng kỵ: - Lựu và bưởi chùm có tương tác với một số thuốc dùng trong điều trị tăng huyết áp (nitatin). Do đó nếu dùng phải thận trọng và cần tham khảo ý kiến thầy thuốc chuyên khoa.

- Không dùng lựu cùng củ cải.

HOA CÚC-VỊ THUỐC,MÓN ĂN CHỮA BỆNH

Cúc là một loài hoa đẹp được nhân dân ta trồng làm cảnh trong những ngày tết. Có nhiều loại cúc nhưng loài cúc được nhân ta dùng làm thuốc chủ yếu vẫn là hoa cúc vàng (kim cúc) và hoa cúc trắng (bạch cúc) dưới cái tên chung là cúc hoa.

Hoa cúc
* Cúc hoa trắng :Tên khoa học là Chrysanthenum sinense .Cây nhỏ, cao khoảng 0,50 -1m, toàn thân có lông trắng, mềm. Lá mọc so le, có lông trắng, chia thành 3-5 thuỳ, mép lá có răng cưa và lượn sóng, mặt dưới có nhiều lông màu trắng mốc. Hoa cúc mọc ở đầu cành hay kẽ lá, đường kính 2,5-5cm, màu trắng đẹp.

* Cúc hoa vàng: Tên khoa học Chrysanthenum indicum. Phiến là hình 3 cạnh tròn, thuỳ lá sẻ sâu. Hoa cúc này nhỏ hơn, màu vàng.

Cả hai loại cúc trên được trồng làm cảnh và lấy hoa làm thuốc hay ướp chè, nấu rượu. Riêng hoa cúc trắng được dùng nấu cháo ăn chữa bệnh.

Thường người ta trồng cúc bằng những mẩu thân dài khoảng 20cm vào tháng 5-6. Sau 4-5 tháng (khoảng tháng 10-11) đã có thể thu hoạch hoa để vụ sau cúc ra hoa nhiều hơn. Có nơi bà con trồng cúc ngay từ mùa xuân (tháng 3) đến tháng 5 phát trụi đi, sau đó cây nảy mầm đến tháng 9-10 ra hoa. Mùa cúc ra hoa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, nếu chăm sóc tốt ta có thể thu hái nhiều đợt.

Cách bào chế vị cúc hoa như sau: Hái hoa cúc về (tốt nhất là hái hoa cúc mới chớm nở) đem phơi khô âm can (không có nắng nhưng có gió) rồi quây cót sấy diêm sinh trong 2-3 giờ. Khi hoa chín mềm đem ra nén một đêm, thấy nước chảy ra đen là được. Sau đó tiếp tục phơi 3-4 nắng nữa sẽ được vị cúc hoa làm thuốc. Thường 5-6kg hoa tươi cho 1kg cúc hoa khô.

Thành phần hoá học: Trong hoa cúc có chất adenin, colin, stachydrin, vitaminA và tinh dầu. Sắc tố hoa cúc là Chrysanthemin. Theo các tài liệu y học cổ, cúc có tác dụng tán phong thấp, thanh đầu mục, giáng hoả, giải độc, được dùng chủ yếu làm thuốc chữa các chứng nhức đầu, chóng mặt, đau mắt, cao huyết áp. Liều dùng mỗi ngày 9-15g dưới dạng thuốc sắc. Có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Hoa cúc dùng để chữa đau mắt và làm sáng mắt. Đông y có nghiên cứu nấu cúc thành cháo thuốc, dùng chủ yếu hoa cúc trắng chữa bệnh đạt kết quả tốt. Sau đây là mấy loại cháo thuốc chữa đau mắt thường dùng, cách làm đơn giản.

* Cháo hoa cúc trắng, hạ khô thảo

Nguyên liệu: Hoa cúc trắng 12g, Lá dâu 10g, Hạ khô thảo 15g, Đậu vàng 30g, Gạo tẻ 50g, Đường phèn vừa đủ (hoặc đường kính trắng).

Cách làm: Hoa cúc trắng, Lá dâu, Hạ khô thảo rửa sạch, đun lấy nước bỏ bã, cho Gạo tẻ, Đậu vàng, Đường phèn vào cùng nấu thành cháo loãng. Mỗi ngày ăn 2 lần, ăn lúc cháo còn ấm.

Công dụng: Khu phong, thanh nhiệt, sáng mắt, giải độc. Thích hợp với đau mắt đỏ, miệng đắng, mắt chói, cao huyết áp.

Chú ý: những người tỳ vị hư hàn, tiêu chảy mạn tính không dùng.

* Cháo hoa cúc trắng, quyết minh tử

Nguyên liệu: Hoa cúc trắng 15g, Quyết minh tử 15g, (hay hạt muồng), Gạo tẻ 100g, Đường kính trắng 15g.
Cách làm: Rang Thảo quyết minh cho có mùi thơm, để nguội rồi cùng nấu với hoa cúc trắng, lấy nước bỏ bã, lọc trong lắng nước. Cho gạo tẻ vo sạch vào nước thuốc và nước lã vừa phải nấu thành cháo. Khi ăn cho thêm đường kính trắng. Mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi đợt chữa 7 ngày.

Ăn cháo thuốc này có công hiệu mát gan, sáng mắt, nhuận tràng, thông tiểu tiện, rất tốt với những người bị đau mắt đỏ, nhìn mờ, cao huyết áp...

Chú ý: Người bị tiêu chảy không nên ăn cháo này.

Những bài thuốc này chỉ dùng cho người bị bệnh nhẹ hoặc dùng kết hợp với thuốc. Người bệnh nặng nên đến bác sỹ khám và cho đơn thuốc thích hợp.

VỊ THUỐC HẠ KHÔ THẢO

Mỗi khi có việc hệ trọng hay trước mỗi kỳ thi, có người tinh thần căng thẳng đến mức mất ăn mất ngủ, bồn chồn, ít nói, dễ cáu gắt, váng đầu, trí nhớ giảm sút… Nhất là người quá hiếu thắng, lo lắng về thành tích hoặc đã từng qua kỳ thi, có nhầm lẫn sai sót lại càng dễ rơi vào tình trạng căng thẳng hơn… Hạ khô thảo – vị thuốc Đông y sẽ lấy lại cân bằng cho mọi người.

Hạ khô thảo
Vị thuốc Hạ khô thảo là cụm hoa và quả khô cây Hạ khô thảo. Hạ khô thảo vị đắng, cay, tính hàn, không độc, vào hai kinh can và đởm, có tác dụng thanh can hoả (làm mát gan), tán uất kết.

Tình trạng căng thẳng phần lớn là do can uất hóa hoả, lo nghĩ, làm hao tổn huyết mà hại đến âm, âm hư thì hỏa vượng, âm dương bất hòa. Sách cổ y học Bản thảo mông thuyên (1525) có ghi: Hạ khô thảo có tác dụng: “Bổ dưỡng quyết âm, huyết mạch, trị can hư…”. Sách Bản thảo bị yếu (1694) cũng ghi: “Hạ khô thảo bổ can huyết, hoãn can hoả, giải nội nhiệt, tán kết khí…” Vì vậy Hạ khô thảo chữa trị tinh thần căng thẳng mỗi khi có việc là rất tốt. Hạ khô thảo hãm nước uống thay trà thật là đơn giản, rẻ tiền lại không bị tác dụng phụ.

Cách chữa: Hằng ngày dùng 20g Hạ khô thảo hãm nước uống thay trà, uống liên tục 10 ngày thì người khôi phục bình thường.

KHOAI LANG CHỮA BỆNH TÁO BÓN

Cây Khoai lang có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới, lan truyền sang các quần đảo Thái Bình Dương, các nước Châu Á, được Cristophe Colombo đưa về châu Âu và người Bồ Đào Nha đưa vào Châu Phi.

Khoai lang
Khoai lang là cây lương thực ăn củ, ăn lá, ăn đọt (ngọn), thích nghi với nhiều vùng khác nhau; từ vùng xích đạo nhiệt đới tới vùng ôn đới, có thể trồng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là đất cát nhẹ. Củ khoai hình thành là do rễ phồng lên, chứa tinh bột và đường; củ trắng vàng hay đỏ tím tuỳ theo từng giống.

Khoai lang có 3 nhóm giống chính:

- Nhóm giống củ thịt mềm, nhiều nước, nấu chín có vị ngọt, mùi thơm, dùng luộc ăn tươi, nấu chè, làm mứt. Các giống nổi tiếng thuộc nhóm này: khoai Lim ở Bắc Ninh; khoai Nghệ ở Ninh Bình; khoai Vồ, Điệp ở Quảng Nam; khoai Dương Ngọc, Ngọc Nữ, Trắng giấy, Tám nghen ở Nam Bộ; khoai Mật, khoai Bí ở Đà Lạt. Các giống thịt vàng có nhiều vitamin A.

- Nhóm giống củ thịt chắc có nhiều bột, thích hợp với thái lát, phơi khô, làm bột. Các giống nổi tiếng thuộc nhóm này: Khoai Phụng, khoai Trà Beng ở Nam Bộ; các giống Tai Nung gốc Đài Loan.

- Nhóm giống củ thịt xơ, ăn không ngon, năng suất cao nhưng chất lượng dinh dưỡng kém, trồng làm thức ăn chăn nuôi. Các giống chính thuộc nhóm này là Hồng Quảng, Okinawa 100, Hsinchu.

Trong củ Khoai lang tươi có: 68% nước, 0,8% protit, 28,5% gluxit, 34mg% canxi, 50mg% phốtpho, 23mg% vitamin C. Ở nước ta, Khoai lang là cây lương thực quan trọng. Trước đây Khoai lang là lương thực chính ở vùng đất cát, nhân dân ta thường luộc khoai ăn tươi hoặc phơi khô, làm bột, làm bánh mứt, nấu chè… Khoai lang khô nấu với đậu là món ăn ngon và bổ dưỡng. Lá và ngọn rau Khoai lang dùng để xào, luộc, nấu canh rất ngon. Vào các tháng “giáp hạt rau”, rau Khoai lang có tác dụng rất tốt.

Theo Đông y, Khoai lang vị ngọt, tính bình, không độc, nhuận tràng, mạnh tì thận, bổ dưỡng, tiêu ung nhọt.

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng Khoai lang

Chữa táo bón

Bài 1: Củ Khoai lang sống rửa sạch, gọt vỏ, giã nhỏ, cho nước đun sôi, quấy đều, uống 1 bát vào sáng sớm, sau nửa giờ chưa đi ngoài lại uống thêm, uống vài ba ngày sẽ hết táo.

Bài 2: Khoai lang củ 150g, gọt vỏ sạch; Vừng đen 20g; Đường 30g. Nấu chè ăn, ngày 2 lần.

Bài 3: Lá Khoai lang tươi 60g; lá Mồng tơi 60g; rau Má 60g. Nấu nước uống hoặc nấu canh.

Chữa kiết lỵ đi ngoài không có nhầy máu: Củ Khoai lang nướng chín, bóc vỏ, chấm Mật ong, ăn ngày 3 lần.

BÀI THUỐC QUÝ-TỨ QUÂN TỬ THANG

Khởi thuỷ từ sách “Thái bình huệ dân hoà tễ cục phương”. Trong bài, bốn vị đều bình hoà, không nhiệt không táo, có thể dùng lâu mà không gây tác dụng xấu, bởi vậy được gọi là “Tứ quân tử thang”.

Thích hợp với sắc mặt vàng héo,tiếng nói nhỏ yếu...
Thành phần và cách dùng

Nhân sâm 6-9g

Bạch truật 9-12g

Phục linh 9-15g

Chích Cam thảo 6-9g.

Sắc uống mỗi ngày 1 thang hoặc chế thành hoàn tễ, mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 6-9g.

Công dụng và chủ trị

ích khí, kiện tỳ, dưỡng vị. Thích hợp với chứng tỳ vị khí hư, sắc mặt vàng héo, tiếng nói nhỏ yếu, tứ chi vô lực, bụng đầy chậm tiêu, ăn kém, đại tiện lỏng nát, chất lưỡi nhợt, mạch tế nhược hoặc trầm hoãn.

Nguồn gốc và phát triển

Khởi thuỷ từ sách “Thái bình huệ dân hoà tễ cục phương”. Trong bài, bốn vị đều bình hoà, không nhiệt không táo, có thể dùng lâu mà không gây tác dụng xấu, bởi vậy được gọi là “Tứ quân tử thang”.

- “Hoà tễ cục phương” gia Biển đậu, Hoắc hương, Hoàng kỳ, gọi là Gia giảm tứ quân tử thang chuyên trị trẻ em thổ tả khó cầm.

- “Tiểu nhi dược chứng trực quyết” gia Trần bì, gọi là Dị công tán, chủ trị tỳ vị hư nhược, chán ăn đầy bụng, nôn, ỉa chảy, trẻ em tiêu hoá không tốt.

- “Phụ nhân lương phương” gia Bán hạ, Trần bì, gọi là Lục quân tử thang, chủ trị tỳ hư đàm trệ.

- “Y phương tập giải” gia Bán hạ, Trần bì, Sa nhân, Mộc hương, gọi là Hương sa lục quân tử thang, chủ trị tỳ vị khí hư, hàn thấp trệ đọng.

- “Bác ái tâm giám” bỏ Bạch truật và Phục linh, gia Hoàng kỳ, Nhục quế, gọi là Bảo nguyên thang, chủ trị hư tổn lao lực, nguyên khí bất túc.

- “Kỳ hiệu lương phương” gia Biển đậu, Hoàng kỳ, Sinh khương, Đại táo, gọi là Lục thần tán, chủ trị tỳ vị hư nhược, tâm khí bất túc.

Ứng dụng lâm sàng hiện đại

Nội khoa


Viêm loét dạ dày tá tràng:

Một nghiên cứu dùng TQTT gia Trần bì, Hoàng kỳ, Mộc hương chữa 38 ca đau dạ dày, trong đó có 12 ca viêm dạ dày mạn tính, 2 ca viêm dạ dày cấp tính, 17 ca loét dạ dày, 6 ca loét hành tá tràng kết hợp viêm dạ dày mạn tính, 1 ca sa dạ dày, kết quả trung bình sau 58 ngày dùng thuốc: có hiệu quả rõ rệt 26 ca, có hiệu quả 12 ca.

Một nghiên cứu khác dùng TQTT gia Trần bì, Bán hạ, Mộc hương, Sa nhân trị liệu 125 ca, sau 30-90 ngày đạt kết quả tốt là 86 ca, khá là 22 ca, trung bình là 17 ca. Cũng có tác giả gia Trần bì, Bán hạ, Huyền hồ, Bạch thược, chữa123 ca, đạt hiệu quả 92,7% sau 20 ngày điều trị.

Xuất huyết đường tiêu hoá trên

Một nghiên cứu dùng TQTT gia Đương quy, Trần bì, Bạch thược, Hoàng liên, Địa du, Đan sâm, Tam thất, Bạch cập trị liệu 84 ca, trong đó 50 ca loét hành tá tràng, 1 ca loét dạ dày, 8 ca viêm dạ dày mạn tính, 15 ca không rõ nguyên nhân. Kết quả sau khi dùng 3-15 thang, 100% số ca ngừng xuất huyết, giảm đau rõ rệt, phản ứng Mayer chuyển âm tính.

Viêm ruột do nấm

Một nghiên cứu dùng TQTT gia Khổ sâm làm phương cơ bản, nếu nhiệt nặng gia thêm Bạch đầu ông, Xuyên hoàng liên; khí hư thì gia Hoàng kỳ, dương hư thì gia Phụ phiến, Nhục quế; thấp nặng gia ý dĩ, Trạch tả; bụng chướng gia Chỉ xác, Hậu phác; ỉa chảy lâu ngày gia Kha tử, Anh túc xác. Đã chữa 32 ca, kết quả: khỏi 15 ca, tốt: 9 ca, khá: 7 ca, không khỏi: 1 ca, đạt hiệu quả 96,9%.

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

RAU DIẾP CÁ CHỮA BỆNH

Nam dược thần hiệu chép rằng: “Rau Diếp cá vị cay, tanh hôi, tính ẩm mát, hơi độc, chữa trị chốc đầu, ghẻ lở, lòi dom, đau răng, sốt rét…”. Diếp cá theo tiếng Hán là Ngư tinh thảo vì có mùi tanh của cá. Diếp cá dùng để ăn sống hoặc trị một số bệnh như:

Diếp cá
Chữa trĩ ra máu: Rau Diếp cá ăn sống hàng ngày, đồng thời rửa sạch, giã nát, rịn vào chỗ bị trĩ.

Chữa đau nhức: Rau Diếp cá nấu nước, lúc nước sôi già đổ ra chậu, xông khi nước còn ấm, ngâm và rửa kỹ hậu môn, sau giã lá Diếp cá rịt vào nơi trĩ đau.

Chữa lòi dom: Đun nước sôi để hơi nguội cho muối vào để ngâm hậu môn nơi lòi dom, sau đó rửa và giã lá Diếp cá để trên lá Chuối sạch, ngồi lên hoặc rịt vào chỗ đau thì dom sẽ co vào.

Chữa mụn nhọt sưng đỏ: Lấy vài lá Diếp cá giã nát, lúc ngủ rịt vào nơi đau, sáng dậy bỏ đi.

Chữa vú sưng, tắc sữa: Rau Diếp cá (cả cây, phơi khô) 20g, Táo đỏ 10 quả, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia làm 3 phần uống trong ngày.

Chữa viêm tuyến sữa
: Lá rau Diếp cá 30g, lá Cải trời 30g, giã nát, chế nước sôi vào vắt lấy nước cốt uống, bã chưng nóng với giấm rịt vào chỗ sưng đau.

Chữa đái buốt, đái dắt: Rau Diếp cá 50g, rau Má 50g, Mã đề 50g rửa sạch vò nát trong nước lọc, gạn lấy nước trong uống.

Chữa đau mắt đỏ: Lá rau Diếp cá rửa sạch, giã nhuyễn dùng vải mỏng, sạch, gói vào đắp lên mắt đau.

Chữa trẻ lên sởi: Rau Diếp cá sao sơ, sắc uống để tiệt nọc sởi.

TRẮC BÁCH DIỆP-VỊ THUỐC CẦM MÁU

Trắc bách diệp còn được gọi là Trắc bá, tên khoa học: Biota orientalis (L) Endi. Trắc bách diệp là một loài cây nhỏ, cao 2 – 3m, lá mọc đối, hình vẩy. Thân phân nhiều nhánh, các nhánh xếp theo những mặt phẳng thẳng đứng. Quả hình trứng, màu xanh, nhỏ, mọc lẫn ở giữa lá. Trắc bách diệp không chỉ được trồng làm cảnh mà còn được dùng làm thuốc cầm máu rất tốt. Bộ phận dùng là lá cây phơi khô, dùng sống hay sao cháy.

Trắc bách diệp
Theo y học dân tộc, lá Trắc bách diệp vị đắng, tính hơi lạnh, có tác dụng cầm máu, mát huyết, thanh thấp nhiệt ở phần huyết nên được dùng chủ yếu để chữa các chứng bệnh về huyết như thổ huyết, băng huyết, đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, đi lỵ ra máu... Có thể dùng riêng lá cây sao cháy sắc uống, hoặc kết hợp với các vị thuốc cầm máu khác, liều dùng mỗi ngày 10 – 12g.

Gần đây, các công trình nghiên cứu cũng đã xác nhận: “lá Trắc bách diệp có tác dụng làm co thành mạch máu, làm tăng lượng protrombin toàn phần của máu rõ và mạnh, giảm thời gian Quick, làm tăng khả năng đông máu, rút ngắn thời gian chảy máu. Như vậy có thể kết luận lá trắc bá có tác dụng cầm máu”.

Lá Trắc bách diệp cũng được dùng trong các bệnh xuất huyết, như khái huyết nhẹ và vừa của bệnh nhân lao, chảy máu cam, rong huyết cơ năng tử cung, viêm niêm mạc tử cung và viêm phần phụ có xuất huyết... có hiệu quả cao. Dạng thuốc dùng thuận tiện nhất là thuốc sắc: lá Trắc bách diệp sao vàng đen (không dùng cành), sắc lấy nước đặc, pha thêm nước đường vào cho dễ uống. Liều dùng: người lớn uống mỗi ngày 50 – 70ml dung dịch trên, dùng liên tục từ 5 – 7 ngày. Thường lá Trắc bách diệp được dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong các đơn thuốc cầm máu:

Chữa khái huyết do cảm nhiễm phong tà (sốt, ho ra đờm có huyết, miệng khô, mũi ráo...): Lá Trắc bách diệp 20g, lá Ngải cứu tươi 20g, cỏ Nhọ nồi 40g, lá Sen tươi 40g, nước 600ml sắc còn 300ml, người lớn chia uống hai lần trong ngày.

Chữa đại tiện ra máu (viêm trực tràng chảy máu, trĩ): Lá Trắch bách diệp (sao đen) 30g, hoa Kinh giới (sao đen) 30g, Hoa hoè (sao đen) 30g, Chỉ xác (bỏ ruột) 20g; sấy khô các vị thuốc trên rồi tán nhỏ, rây kỹ, cho vào lọ nút kín; người lớn mỗi lần uống 8g với nước đun sôi để nguội.

RỄ CÂY RUỘT GÀ-BA KÍCH

Cây Ruột gà là một trong số cây đặc sản của vùng Á Đông, trong đó có Việt Nam, tên khoa học Radix Morindae officinalis. Rễ cây ruột gà là vị thuốc Ba kích trong Đông y. Xin giới thiệu với bạn đọc một số tóm lược về Ba kích để ứng dụng vào thực tế.

Rễ cây ruột gà là vị thuốc ba kích trong Đông y
TRÊN NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

* Tác dụng trên huyết áp: Tuỳ thuộc vào nống độ của thuốc thử và cách thử (tiêm hay uống), nói chung liều cao mới có tác dụng hạ huyết áp. Trên thực nghiệm tác dụng hạ huyết áp chưa rõ, trên người có lẽ phải ở tình trạng mà theo Y học cổ truyền là dương hư, Ba kích mới thể hiện được tác dụng hạ áp.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phần nào trùng hợp với kết quả của các tác giả khác đã tiêm cho chó với liều Ba kích có nồng độ cao trên 20% mới gây hạ huyết áp. Trong cơ chế tác dụng nên quan tâm hiện tượng ức chế tim ếch, cô lập gây giảm biên độ co bóp (P < 1%) ở nồng độc 20% và cao hơn. Hình ảnh điện tâm đồ cũng cho thấy cần thiết xem xét lại giá trị của tác dụng hạ huyết áp của Ba kích. Mặc dầu huyết áp giảm (có tính chất tạm thời), nhưng thí nghiệm mạch ếch cô lập chỉ mới cho kết quả có xu hướng dãn mạch mà thôi (dãn chưa rõ).

Vậy cần thiết thăm khám và có chẩn đoán bệnh của những bệnh nhân này (theo đông y) để có hướng nghiên cứu mới. Chúng tôi có ý kiến đề nghị không nêu tác dụng hạ áp của Ba kích một cách chung chung như một số tài liệu đã công bố.

* Trong bào chế công nghiệp có cần thiết loại bỏ lõi Ba kích không?

Tuy rằng công trình mới nghiên cứu sơ bộ nhưng vẫn có giá trị gợi ý rằng lõi cũng có thành phần hoá học và tác dụng dược lý tương đối rõ rệt. Do đó vẫn cần lưu ý tham khảo nội dung y học cổ truyền, đồng thời không nên xem thường nội dung đó. Không vội nghĩ rằng lõi gỗ không có tác dụng gì dẫn đến việc sử dụng thiếu thận trọng. Có lẽ tác dụng "gây phiền" trong y học cổ truyền khi nói đến các loại lõi là tác dụng ảnh hưởng trên hệ tim mạch? Do đó trước mắt vẫn nên tôn trọng kinh nghiệm cổ truyền là loại bỏ lõi khi dùng Ba kích theo cổ truyền. Hoặc hạn chế tối đa khối lượng lõi trong thuốc.

Chúng tôi thấy:

Thành phần Ba kích Fe = 7,5mg%, Ca < 1mg%, Cu < 1mg%, Zn = 0.
Phần lõi chúng tôi đã phát hiện thêm các hoá chất khác mà từ trước chưa thấy nói đến. Phần nghiên cứu này cần được nghiên cứu sâu thêm. Các công trình nghiên cứu về xơ của củ Sắn dây (Cát căn) ở nước ngoài đã lưu ý chúng ta cần quan tâm đến các phần "ít quan trọng" này của dược liệu để ứng dụng vào công tác chế biến các dược liệu có lõi như thiên môn, mạch môn...

CÔNG DỤNG CỦA TÊ GIÁC

Tê giác còn gọi là Tê ngưu giác, Ô tê giác... là sừng của nhiều loại Tê giác như Rhinoceros unicoris L. (Độc giác tê), Rhinoceros sondaicus Desmarest (tiểu Độc giác tê), Rhinoceros sumatrensis (Song giác tê)... Thành phần hoá học chủ yếu của Tê giác là Keratin, ngoài ra còn có Canxi cacbonat, Canxi photphat; khi thuỷ phân, Tê giác sẽ cho các axit amin như Tyrosin, Axit tiolatic, Xystein.

Tê giác có tác dụng thanh nhiệt lưỡng huyết,giải đôc,cầm máu...
Theo y học cổ truyền, Tê giác vị chua mặn, tính lạnh, vào hai đường kinh Tâm và Can, có công dụng thanh nhiệt lưỡng huyết, định kinh giải độc và cầm máu, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như thương hàn ôn dịch mà nhiệt nhập huyết phận, sốt quá hoá điên cuồng, co giật, sốt vàng da, ban chẩn, thổ huyết, chảy máu cam, ung độc, hậu bối...

Trong Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã viết: Tê giác – Sừng tê ngưu, vị mặn, đắng, chua, tính hàn, không độc, giải các nhiệt độc, trị nhọt lở, cổ trướng, bệnh mất máu, phong cuồng, sốt rét và ôn dịch. Hải Thượng Lãn Ông ghi nhận trong Lĩnh Nam bản thảo:

"Tê giác tục gọi cái sừng Tê,

Lạnh, mặn, đắng, chua, tính lành thật

Giải nhiệt độc, trùng cổ, mụn ung,

Mọi xuất huyết, cuồng phong, chướng tật".

Trong Dược phẩm vậng yếu, ông cũng viết về công dụng của Tê giác: Sáng mắt an thần, nó là thuốc chủ yếu để thanh tâm trấn can, tiêu đàm chỉ lỵ, lương huyết tán tà, trúng phong mất tiếng, chữa phiền nóng, thổ huyết, nục huyết, tiện huyết, ứ huyết, chữa chứng thương hàn phát cuồng, phát hoảng, phát ban, nói sảng cùng trẻ con phong nhiệt gây thành kinh giản, chữa chứng đậu nóng dữ và còn nọc độc...

Một số đơn thuốc chữa bệnh bằng Tê giác:

-Chữa sốt cao: Phòng phong 4g, Mộc hương 6g, Tang bạch bì 6g, Cam thảo 4g, nước 600ml sắc còn 200ml; mài 5g Tê giác vào rồi chia uống 3 lần trong ngày.

-Chữa các chứng thổ huyết, chảy máu cam, sốt nóng mê man, nói lảm nhảm, vàng da, phát ban hoặc lên đậu mọc chi chít: mài Tê giác với nước cho đặc mà uống.

-Điên cuồng, đêm ngày mộng du, lúc tỉnh lúc mê, co cứng bất tỉnh nhân sự: Tê giác 20g, Xạ hương 10g, Chu sa 10g, tán nhuyễn, mỗi lần uống 8g.

Theo kinh nghiệm của cổ nhân, Tê giác có thể được dùng dưới dạng sắc, tán bột hoặc mài lấy nước uống, mỗi ngày từ 0,5g – 1g, có khi dùng tới 4 – 12g. Những người không phải đại nhiệt, không có ôn độc và phụ nữ có thai không được dùng.

Tê giác đã được ghi vào Sách đỏ vì số lượng còn rất ít. Các quốc gia đều tuyệt đối cấm săn bắn và tìm mọi biện pháp để bảo tồn nòi giống Tê giác. Vì vậy, hiện nay các nhà y học cổ truyền ở một số nơi đã nghiên cứu dùng Thuỷ ngu giác (sừng của con Trâu – Buballus bubalis Linnaeus) để thay thế và nhận thấy cũng có tác dụng khá tốt.

BÈO CÁI VÀ VỊ THUỐC PHÙ BÌNH

Bèo cái còn gọi là Bèo ván, Bèo tai tượng... Tên khoa học Pistia stratiotes L, thuộc họ Ráy (ARACEAE). Trong Đông y, Bèo cái là một vị thuốc rất thông dụng, nó được xếp vào loại thuốc "tân lương giải biểu", cùng nhóm với các vị thuốc như Bạc hà, lá Dâu tằm, Hoa cúc, Sắn dây, Mạn kinh tử ... - những vị thuốc có vị cay, tính mát; dùng để chữa sốt, kèm theo ghê gió lạnh, họng khô, miệng khát, do cảm phải ngoại tà phong nhiệt. Ngoài ra còn dùng để chữa các chứng mắt đỏ chảy nhiều nước mắt, họng sưng đau, ban sởi không mọc được ra ngoài và các chứng ho do phong nhiệt.

Bèo cái
Theo Đông y, Bèo cái vị cay, tính lạnh, vào các kinh phế và bàng quang, có tác dụng phát hãn giải biểu (làm ra mồ hôi để giải cảm), thấu chẩn chỉ dương (làm cho ban chẩn mọc ra ngoài và chống ngứa), lợi thủy tiêu thũng.

Kiêng kỵ: những người cơ thể suy yếu, mồ hôi tự tiết ra (tự hãn) cần cẩn thận khi sử dụng.

Để dùng làm thuốc, có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa hạ, lúc cây có hoa. Có thể dùng tươi hoặc phơi khô dùng dần.

Một số ứng dụng cụ thể:

- Chữa phát sốt, uống nước mãi không hết khát, tâm thần phiền táo: Bèo cái lấy về rửa sạch, phơi khô, nghiền thành bột mịn, hòa với sữa trâu làm thành viên bằng hạt ngô đồng. Ngày uống 3 - 4 lần, mỗi lần 30 viên, chiêu thuốc bằng nước cơm hoặc cháo loãng.

- Chữa cảm phải khí nóng đầu mặt sưng ngứa, đau mắt, khắp mình nổi mẩn ngứa hoặc sưng phù: Bèo bỏ rễ, Bạc hà, Kinh giới - mỗi thứ một nắm (khoảng 30g), sắc nước uống và xông rửa.

- Đơn thuốc chữa hen suyễn. Bèo cái 100g cắt bỏ rễ, bỏ lá vàng, rửa nhiều lần bằng nước lã cho thật sạch, cuối cùng có thể rửa thêm một lần bằng nước muối loãng. Vẩy cho ráo nước, giã nhỏ trong cối, vắt lấy nước, thêm nước lọc và xirô Chanh cho vừa đủ ngọt và đủ 100ml. Ngày có thể uống 2 lần, mỗi lần một liều như trên. Thường sau khi uống 10 ngày cơn hen suyễn đã bớt, uống liên tục trong vòng 2 tháng có khi tới 3 tháng. Khi mới uống có thể thấy ngứa cổ trong vòng 10 phút, nhưng sau quen dần và hết ngứa.

- Chữa mũi chảy máu. Bèo cái phơi khô, nghiền thành bột mịn, thổi vào lỗ mũi bị chảy máu.

- Chữa viêm xoang mũi mạn tính: Bèo cái khô 10g, Bạch chỉ 5g, Hoàng cầm 5g, Kim ngân hoa 8g, Cam thảo 4g, sắc nước uống thay trà trong ngày.

- Chữa trĩ ngoại (lòi dom): Bèo cái nấu nước xông, rửa; đồng thời giã lá Bèo cái đắp vào chỗ đau.

- Chữa phù thũng mới phát: Bèo cái một nắm (30g), sắc nước uống.

- Chữa phù do viêm thận cấp tính, tiểu tiện khó khăn, phát sốt: Dùng "Phù bình đậu qua bì thang", thành phần gồm: Bèo cái khô 10g, Mộc tặc thảo 12g, Liên kiều 12g, Xích tiểu đậu (Đậu đỏ nhỏ hạt) 20g, Đông qua bì (vỏ Bí đao) 16g, Tây qua bì (vỏ Dưa hấu) 12g, Ma hoàng 4g, Cam thảo 4g, sắc nước uống.

- Chữa viêm thận cấp tính: Bèo cái 60g, Đỗ đen 30g, sắc nước uống trong ngày.

- Chữa eczêma. Số lượng Bèo cái tùy theo nơi chữa to hay nhỏ, đem về rửa sạch bằng nước thường 3 - 4 lần, thêm ít muối giã nát, đắp cả nước lẫn cái lên chỗ bị eczêma. Thường chỉ đắp một hai lần chỗ mẩn không chảy nước nữa và điều trị trong vòng 7-10 hôm là khỏi hẳn. Đồng thời với việc đắp ngoài có thể uống những thang thuốc giải độc có hoa Kim ngân, Bồ công anh v.v....

- Chữa đơn độc mới phát: Dùng Bèo cái nấu nước xông, rửa, đồng thời giã lá Bèo cái đắp vào chỗ đau. "Đơn độc" còn gọi là "lưu hỏa": một bệnh viêm cấp tính do nhiễm trùng, thường phát ở mặt và cẳng chân; bệnh ở dưới chân hay tái phát. Chỗ bị bệnh da sưng đỏ tấy, nóng rát, đau nhức, người phát sốt phát rét.

- Đơn thuốc chữa mẩn ngứa: Bèo cái 50g rửa sạch, sao vàng, sắc với nước uống hằng ngày. Dùng trong 2-3 ngày.

- Chữa lang ben: Bèo cái 200g đun nước tắm đồng thời dùng lá Bèo cái xát vào chỗ da bị lang.

- Chữa mụn rộp loang vòng: Rửa sạch vết loét bằng nước sắc bèo cái, sau đó rắc lên đấy Bèo cái đã đốt thành tro.

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

NHỮNG LOẠI THỰC PHẨM CẢI THIỆN GIẤC NGỦ HIỆU QUẢ

Thiếu ngủ không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của người dân, học tập và làm việc mà đôi khi còn gây ra những nguy hiểm sức khỏe nghiêm trọng.

Trà hoa cúc có tác dụng an thần tốt
Thiếu ngủ không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của người dân, học tập và làm việc mà đôi khi còn gây ra những nguy hiểm sức khỏe nghiêm trọng. Có cách nào để giải quyết vấn đề mất ngủ? Bài viết nhỏ dưới đây giới thiệu tới sáu loại thực phẩm giúp cải thiện chất lượng giấc ngủ hiệu quả, giúp tinh thần bạn luôn minh mẫn và khỏe mạnh.

Bỏng ngô

Bỏng ngô có chứa tinh bột, axit amin, tryptophan và chất dẫn truyền thần kinh serotonin thông qua trung tâm não, làm phát sinh mong muốn ngủ. Tốt nhất là không ăn trước khi đi ngủ hai giờ, thời gian này có thể khiến thực phẩm dung nạp vào cơ thể không kịp tiêu hóa, gây ra đầy bụng lại tác động không tốt tới giấc ngủ.

Cá bơn

Cá bơn chứa tryptophan và vitamin B6 hiệu quả trong việc viện trợ, nâng cao chất lượng giấc ngủ. Hơn nữa, lượng thịt trong cá bơn tương đối nhẹ, hương vị cũng rất tuyệt vời nên nó hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu về hương vị và cảm nhận cho một món ăn ngon. Ngoài ra các loại thực phẩm như: gia cầm, thịt bò, đậu nành, sữa, phô mai, sữa chua, các loại hạt và trứng cũng có nhiều chất tryptophan.

Anh đào khô

Một lượng nhỏ anh đào khô, có thể cung cấp serotonin cần thiết để thúc đẩy sự tổng hợp carbohydrates để cải thiện chất lượng giấc ngủ tốt hơn. Ngoài ra, anh đào khô cũng chứa chất chống oxy hóa rất hữu ích trong việc nuôi dưỡng vẻ đẹp.

Đậu xanh

Đậu xanh có nhiều chất xơ và rất giàu vitamin B6, có thể làm cho một người có cảm giác yên tĩnh hay những cảm xúc nhẹ nhàng giúp thúc đẩy giấc ngủ hiệu quả. Tùy theo chế độ ăn uống thông thường hàng ngày, bạn có thể chế biến đậu xanh theo hương vị và khẩu vị riêng của từng người để kích thích sự ngon miệng.

Trà hoa cúc

So với trà truyền thống thì trà hoa cúc tốt hơn vì nó không chứa caffeine. Nhờ vậy có tác dụng an thần tốt. Trước khi đi ngủ uống một tách một chút trà hoa cúc, không chỉ có thể làm cho bạn cảm thấy buồn ngủ, mà còn cải thiện nhiệt của cơ thể.

Mật ong

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng orexin trong bộ não con người không chỉ điều khiển cảm giác ngon miệng mà còn can thiệp, điều tiết giấc ngủ mà cả các hoạt động sinh lý khác. Mật ong chứa nhiều đường, có thể thúc đẩy lượng đường trong máu, giảm sản xuất orexin trong não, điều chỉnh chất lượng giấc ngủ.

NHỮNG GIA VỊ CỦA CUỘC SỐNG

Hãy thử tìm hiểu công dụng của một số loại gia vị mà thiên nhiên ban tặng cho con người nhé.

Hoa hồi có tác dụng giảm viêm,sưng tấy rất tốt
1. Thảo quả

Nhà dinh dưỡng học TS Ray Sahel cho biết lượng chất chống ôxy hoá trong thảo quả sẽ giúp khôi phục lại mức độ glutathione, đây là một chất bảo vệ các tế bào chống lại những độc tố trong cơ thể. Mỗi buổi sáng dùng thảo quả pha chế thêm gừng tươi để chống lại những dư vị khó chịu và đón nhận một ngày mới tràn đầy sức sống hơn.

2. Cây thìa là Ai Cập

Nửa thìa hạt thìa là có tác dụng chống oxi hoá gấp đôi so với một cốc cà chua xay nhỏ và gần gấp đôi so với cà rốt. Nhớ thêm vào trong súp hoặc nước sốt loại gia vị này nhé.

3. Nghệ

Các nhà nghiên cứu Mỹ đã phát hiện ra rằng chất curcumin, một hợp chất trong nghệ giúp ngăn ngừa tắc nghẽn các mạch máu nhỏ trong não có thể gây ra bệnh Alzheimer. Nghệ được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở Ấn Độ giúp các nhà nghiên cứu Mỹ giải thích được lý do tại sao rất ít người già ở Ấn có bệnh.

4. Cây nghệ tây

Màu hồng của cây nghệ tây xuất phát từ một axit tự nhiên được gọi là crocetin mà các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng có thể ngăn ngừa rối loạn thần kinh như bệnh Parkinson.

5. Cây thì là

Trong thì lá có chứa kali gần như là nhiều hơn một quả chuối. Các nhà nghiên cứu của trường đại học Y khoa tây nam Texas đã tìm thấy kali trong chế độ ăn uống của bạn cũng quan trọng như giảm muối để có một huyết áp ổn định và khoẻ mạnh vậy.

6. Hoa hồi

Anethole là tinh dầu thiết yếu đem lại cho hoa hồi một hương vị ngọt ngào đặc trưng. Nghiên cứu tại đại học Texas MD – trung tâm nghiên cứu bệnh ung thư Anderson chỉ ra rằng hoa hồi không chỉ đem lại mùi hương thơm cho món ăn mà còn có tác dụng giảm viêm, sưng tấy rất tốt.

RỄ CÂY ĐA CHỮA ĐƯỢC BỆNH

Trong tiềm thức người Việt xưa, hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình là hình ảnh không thể thiếu ở mỗi làng quê.


Rễ đa chữa bệnh
Đa là cây thân gỗ cao, có nhiều lá hình bầu dục, hơi dài, to và dày. Rễ cái to, có nhiều rễ con mọc từ cành rủ xuống đất. Khi dùng làm thuốc chữa bệnh, người ta chỉ dùng tua rễ hay thường gọi là rễ phụ (cả lõi và rễ), dùng tươi hay sao khô đều được.

Chữa xơ gan cổ trướng và lợi tiểu: Rễ cây Đa 100 – 150g sắc với nước, uống. Nước sắc này còn có thể làm giảm huyết áp nhẹ.

Chữa đi ngoài, thổ tả: Lá đa bồ đề (lượng vừa phải) giã nát, vắt lấy nước cốt cho uống.

NHỮNG LOẠI THỰC PHẨM GIÚP ĐÁNH BAY MÙI HÔI MIỆNG

Miệng hôi, cho dù là bất kỳ nguyên nhân gì cũng luôn khiến cho bạn thiếu tự tin. Một số cách đơn giản sau có thể rất hữu ích cho bạn đấy.

Ăn sữa chua đúng giờ có thể ngăn chặn các vi khuẩn có hại sinh sôi trong miệng
1. Sữa – giúp khử mùi sau khi bạn ăn tỏi

Ăn tỏi rất tốt cho sức khỏe nhưng nó lại có một nhược điểm đó là làm cho hơi thở của bạn thật khó chịu. Đôi khi, dù đã đánh răng hay thử rất nhiều cách nhưng bạn vẫn có cảm giác không được tự tin. Hãy uống một cốc sữa bạn sẽ thấy hết mùi tỏi ngay!

2. Chanh

Chanh có tính axít, vị hơi đắng, có tác dụng giải khát, giúp tiết nước bọt. Có thể cho một chút bạc hà vào ly nước nóng, đồng thời cắt vào đó một vài lát chanh mỏng, nó sẽ giúp bạn loại bỏ ngay mùi hôi miệng.

3. Cần tây

Cần tây là loại rau có tác dụng rất tốt trong việc giúp “đánh bay” các loại mùi hôi miệng, đặc biệt là mùi thuốc lá. Để đạt được hiệu quả cao hơn bạn có thể ăn sống và nhai kỹ hơn một chút hoặc là dùng làm trà uống. Ngoài tác dụng khử mùi hôi miệng rau cần còn rất hữu ích cho hệ tiêu hóa của bạn đấy!

4. Sữa chua

Theo nghiên cứu gần đây cho thấy, nếu duy trì ăn sữa chua hàng ngày có thể giúp giảm hàm lượng Hydrogen sulfide trong khoang miệng, những loại chất này chính là thủ phạm hàng đầu gây mùi khó chịu. Ăn sữa chua đúng giờ còn có thể ngăn chặn các vi khuẩn có hại sinh sôi trong khoang miệng. Tuy nhiên, sữa chua tự nhiên mới có tác dụng tốt như vậy còn nếu là loại có đường thì có thể sẽ bị giảm đi đôi chút đấy!

5. Quất ngọt

Quất ngọt rất hữu hiệu cho việc khử mùi hôi miệng do thức ăn trì trệ trong quá trình tiêu hóa, có thể lấy 5-6 quả quất ngọt rửa sạch ăn cả vỏ. Nó có mùi thơm nhẹ và có tác dụng thuận khí kiện tì, rất tốt cho tiêu hóa.

6. Mật ong

Bệnh táo bón làm các chất cặn bã tích tụ lâu cũng là nguyên nhân gây nên hôi miệng. Dùng một thìa mật ong pha vào ly nước ấm, uống vào mỗi bưởi sáng trước khi ăn. Mật ong có tác dụng thông nhuận đường ruột và loại bỏ các chất cặn bã.

7. Bưởi giúp loại bỏ mùi hôi sau khi uống rượu

Bưởi có tác dụng trị viêm miệng, loại bỏ khí dư trong dạ dày, giải độc rượu và lấy đi tất cả những mùi khó chịu sau khi uống rượu.

BÍ KÍP CHỮA HO BẰNG NGHỆ TƯƠI

Dưới đây là một số công thức chữa bệnh giúp bạn và người thân có thể áp dụng chữa trị trong cuộc sống hàng ngày nhé.

Dùng nghệ tươi để trị ho

Chữa ho bằng nghệ tươi

Để chữa ho, bạn có thể dùng nghệ tươi để điều trị. Lấy củ nghệ tươi gọt vỏ, cắt nhiều lát mỏng. Chanh tươi gọt vỏ, cắt lát mỏng, lượng bằng với nghệ (chừng 6 -7 lát). Củ gừng tươi cũng rửa sạch, cắt lát mỏng nhưng lượng bằng một nửa nghệ.

Ba nguyên liệu ấy cho vào tô hay chén cùng một ít nước chín, và hai muỗng mật ong (hoặc hai muỗng đường phèn) rồi đem chưng cách thủy, dùng nước chưng này để chữa ho rất hay. Nếu dùng luôn cả xác thì càng tốt.

“Đặc sản” vùng quê

Khoai lang là loại rau dễ trồng, có ở khắp các vùng quê. Loại rau này tuy dân dã nhưng ăn rất ngon và bùi. Với nhiều lợi ích: mát, bổ, tính bình, vị ngọt, không độc, ích khí lực, kiện tỳ vị, bổ thận âm, dùng chữa tỳ hư, kém ăn, thận âm bất túc nên nhiều người gọi rau khoai lang là “sâm nam”.

Rau lang tươi luộc chín có tác dụng nhuận tràng rất hay. Người bệnh tiểu đường thường xuyên dùng món rau lang luộc cũng tốt vì chúng cũng có đặc tính giảm đường huyết.

Cần tây rất tốt cho sức khỏe


Đông y cho rằng: Cần tây tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trị đàm nhiều đầy ngực, lao hạch,… có thể phòng và chống được nhiều loại bệnh. Trong cần tây chứa nhiều axit amin tự do, tinh dầu, nhiều loại vitamin, giúp tăng cảm giác thèm ăn, xúc tiến tuần hoàn máu và bổ não.

Loại rau này cũng chứa nhiều vi lượng muối vô cơ, cung cấp khoáng chất sắt, kẽm… do vậy mà thích hợp dùng cho bệnh nhân tai biến mạch máu não.