Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Sử dụng thuốc an toàn tại nhà

Bên cạnh những tác dụng dược lý hữu ích trong điều trị bệnh, hầu như bao giờ thuốc cũng có những tác dụng không mong muốn. Nếu không thực hiện đúng cách thức sử dụng thuốc theo đơn, nhất là khi dùng thuốc tại gia đình, có thể gây tổn thương các bộ phận hoặc gây nguy hiểm cho cơ thể người dùng thuốc.

Dùng thuốc theo đơn

Khi bị bệnh nên đi khám bệnh và dùng thuốc theo đơn đã kê. Không được tự ý kể bệnh ở hiệu thuốc rồi mua thuốc hoặc dùng đơn thuốc của người khác, dù có những triệu chứng tương tự. Nên hỏi bác sĩ đã nắm được đặc điểm sinh lý của bạn, tiền sử bệnh lý, mối liên quan của thuốc đối với bạn. Nên kể các loại thuốc đã dùng và biểu hiện của cơ thể bạn đối với các thuốc đó. Nếu đã khám và chữa ở nhiều bác sĩ, phải thông tin lại những thuốc đã sử dụng.


Cách dùng thuốc an toàn

Nên uống thuốc ở chỗ đủ ánh sáng: sau khi đã nhận mặt, đọc đúng tên thuốc, liều lượng rồi mới uống. Tránh uống thuốc ở nơi không đủ ánh sáng hoặc lúc vội vàng dễ gây nhầm lẫn, nhất là khi uống nhiều loại thuốc cùng một lúc.

Nước để uống thuốc tốt nhất, tiện dụng và thích hợp nhất là nước đun sôi để nguội. Đối với các loại thuốc nước, thuốc hỗn dịch, nhũ dịch phải lắc kỹ trước khi dùng.

Để tránh nhầm lẫn, không để bất cứ thứ gì khác trong tủ thuốc: đã có trường hợp nhầm lẫn hết sức tai hại giữa lọ keo dán sắt với lọ thuốc tra mắt, do để cùng nhau ở trong tủ thuốc. Không baogiờ để thuốc ngủ, thuốc trị bệnh tâm thần, thuốc chữa bệnh tim mạch, hô hấp ở đầu giường ngủ: trong trạng thái không tỉnh ngủ có thể uống thêm liều thuốc nữa. Các thuốc này có thể gây tử vong khi dùng quá liều.

Phòng hen suyễn ở người cao tuổi

Hen suyễn là một bệnh cấp hoặc mạn tính của đường hô hấp. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và đều có thể gây nguy hiểm nhưng với người cao tuổi (NCT) thì càng cần thận trọng hơn vì tuổi cao, sức yếu. Tuy nhiên, bệnh hay bị bỏ sót vì ở NCT đôi khi còn mắc một số bệnh khác cũng gây khó thở như bệnh tim, giãn phế quản, khí phế thũng, phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).

Vì sao NCT dễ mắc bệnh?

Ở NCT, mọi chức năng của cơ thể đã bắt đầu hoặc đã suy giảm, trong đó chức năng miễn dịch suy giảm rõ rệt. Vì vậy, NCT dễ bị nhiễm khuẩn đường hô hấp, dễ bị kích ứng với tác nhân lạ (bụi bẩn, khói thuốc, khói bếp, lông chó, mèo), hoặc một số ký sinh trùng (mạt, mò, nấm mốc...). Một số thực phẩm cũng có thể kích thích gây nên cơn hen suyễn ở NCT hoặc làm cho bệnh hen suyễn nặng (tôm, cua, mắm tôm, trứng vịt lộn). Ngoài ra, tác dụng phụ của một số thuốc (thuốc điều trị bệnh về khớp loại không steroid như diclofenac, piroxicam, indomethacin, tilcotil...; thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp loại chẹn bêta (atenolol) cũng gây bệnh hen hoặc làm cho bệnh hen nặng thêm. Ngoài ra, có một số yếu tố nguy cơ cao làm xuất hiện cơn hen hoặc làm cho cơn hen nặng thêm ở NCT là thời tiết thay đổi (nóng, lạnh đột ngột), viêm mũi dị ứng, bệnh mề đay, bệnh viêm da dị ứng, bệnh tổ đỉa, bệnh chàm, hút thuốc lá, thuốc lào.
Bệnh hen suyễn gặp ở mọi lứa tuổi nhưng với người cao tuổi cần thận trọng vì tuổi cao, sức yếu.
Nhận biết bệnh bằng cách nào?

Ho, khò khè, khó thở, nặng ngực thường thấy ở hầu hết bệnh nhân hen suyễn, trong đó khó thở là triệu chứng đặc trưng nhất do co thắt phế quản đột ngột. Cơn hen cấp tính ít khi có dấu hiệu báo trước và khi lên cơn hen thường khó thở, làm người bệnh rất mệt mỏi, đôi khi thấy môi bị tím tái, lồng ngực, cơ hoành bị co kéo do thiếu dưỡng khí đột ngột. Người bệnh thường phải ngồi dậy để thở, kèm theo là tiếng khò khè trong ngực, xuất tiết nhiều chất đờm (lúc đầu là đờm đặc, sau đó lỏng dần). Bệnh nhân có thể sốt do bội nhiễm. Ở NCT thường sốt nhẹ hoặc không sốt do phản ứng của cơ thể bị giảm. Khi bị viêm nhiễm đường hô hấp kèm theo thì niêm mạc đường hô hấp (khí quản, phế quản, phế nang) sẽ bị sưng nề làm chít hẹp đường đi của dưỡng khí nên càng gây khó thở. Người bị hen suyễn mạn tính thường mệt mỏi, da xanh, lười vận động do thiếu oxy trường diễn. Ho là một triệu chứng luôn thấy ở NCT bị hen suyễn do phế quản bị phù nề kèm theo bị co thắt mạnh, nhất là khi thời tiết thay đổi (nóng quá, lạnh đột ngột) hay lao động nặng hoặc khi gắng sức (bưng bê vật nặng, lên cầu thang). Ho kéo dài nhiều ngày, thường xảy ra vào nửa đêm về sáng và nhất là khi bệnh nặng lên. Ho liên tục hoặc thỉnh thoảng nên người bệnh thường nghĩ mình bị viêm họng chứ không phải hen suyễn. Hen là một bệnh hay gặp ở NCT, tuy vậy, bệnh hay bị bỏ sót vì ở NCT đôi khi còn mắc một số bệnh khác cũng gây khó thở như bệnh tim, bệnh giãn phế quản, bệnh khí phế thũng, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tĩnh (COPD).

Lời khuyên của bác sĩ

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Những tác dụng phụ của viên sắt

Hiện nay trên thị trường viên sắt II sulfat có dạng viên nén bao phim, viên nang (dùng cho người lớn) và dạng siro (dùng cho trẻ em). Trong viên sắt II sulfat thường có sự phối hợp với acid folic (để hạn chế sự rối loạn tiêu hóa thường có liên quan với hầu hết các chế phẩm sắt uống và đề phòng thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ do thiếu folat) hoặc vitamin C (giúp tăng sự hấp thu sắt và cung cấp vitamin C) hoặc hỗn hợp vitamin B...

Thuốc được dùng để phòng và điều trị bệnh thiếu máu do thiếu sắt trong các trường hợp cắt dạ dày, hội chứng suy dinh dưỡng và bổ sung sắt cho phụ nữ mang thai.



Tuy nhiên khi dùng viên sắt II sulfat cần chú ý:

- Thận trọng dùng cho người bệnh có nghi ngờ loét dạ dày, viêm ruột hồi hoặc viêm loét ruột kết mạn. Viên nén bao phim giải phóng chậm trong cơ thể gây độc cho người cao tuổi hoặc người có chuyển vận ruột chậm; Không uống thuốc khi nằm; Không dùng viên nén, viên nang cho trẻ em dưới 12 tuổi (trẻ em dùng thuốc giọt hoặc siro (hút qua ống); Không dùng cho người mẫn cảm với sắt II sulfat hoặc trường hợp cơ thể thừa sắt.

- Thuốc có thể gây ra một số tác dụng phụ ở đường tiêu hoá như: đau bụng, buồn nôn nôn, táo bón, phân đen (không có ý nghĩa lâm sàng), răng đen (nếu dùng thuốc nước, vì thế nên hút bằng ống hút). Trong rất ít trường hợp thấy nổi ban da.

- Thuốc được hấp thu tốt hơn nếu uống lúc đói. Tuy nhiên thuốc lại gây kích ứng niêm mạc dạ dày. Vì vậy nên uống thuốc trước khi ăn 1 giờ hoặc sau khi ăn 2 giờ. Uống thuốc với nhièu nước và nuốt nguyên viên (không được nhai viên thuốc khi uống).

- Không dùng phối hợp viên sắt II sulfat với ofloxacin, ciprofloxacin, norfloxacin… Uống đồng thời với các thuốc kháng acid như calci carbonat, natri carbonat, magnesi trisilicat hoặc với nước chè có thể làm giảm sự hấp thu sắt. Sắt có thể chelat hóa với các tetracyclin và làm giảm hấp thu của cả hai loại thuốc. Sắt có thể làm giảm hấp thu của penicilamin, carbidopa, levodopa, methyldopa, các quinolon, các hormon tuyến giáp và các muối kẽm. `

DS. Hoàng Thu
suckhoedoisong.vn

Uống thuốc: Không phải cứ nuốt là xong

Khi sử dụng dược phẩm đường uống, cần phải được dược sĩ hay bác sĩ tư vấn nên uống thuốc lúc đói hay lúc no, sau khi ăn hay trong khi ăn....

Đối với dược phẩm, uống bằng đường miệng được xem là tiện dụng và phổ biến nhất tùy loại thuốc mà bệnh nhân được bác sĩ kê toa. Việc dùng thuốc bằng đường miệng lại chia thành nhiều dạng khác nhau: Nuốt nguyên viên, nhai hoặc là viên thuốc được đặt dưới lưỡi, kẹo ngậm, thuốc dạng lỏng...

Dược phẩm sau khi nuốt sẽ "ngao du" từ dạ dày hoặc ruột non rồi đi vào hệ tuần hoàn máu, sau đó sẽ được máu "áp tải" tới các cơ quan, bộ phận của cơ thể. Quá trình này gọi là sự hấp thụ thuốc. Sự hấp thụ thuốc phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chẳng hạn như dạng thuốc mà bệnh nhân sử dụng (viên nén, viên trần hay viên được bao phim, dạng thuốc nước...); uống thuốc trước khi ăn, sau khi ăn hoặc uống khi bụng đói; sự phản ứng hóa học giữa dược phẩm và dịch axít trong hệ tiêu hóa; sự tương tác giữa dược phẩm này khi uống chung với các loại dược phẩm khác.


Đối với dạng thuốc viên nén và viên nang thì cách dùng rất phổ thông là uống chung với nước đun sôi để nguội. Không uống chung với những loại nước khác như nước ép trái cây. Ví dụ, thuốc hạ cholesterol statins và thuốc Viagra sẽ gây ra những tác dụng phụ rất nguy hiểm. Còn sữa sẽ làm "phế võ công" của các loại kháng sinh như Ciprofloxacin.

Khi sử dụng dược phẩm đường uống, cần phải được dược sĩ hay bác sĩ tư vấn nên uống thuốc lúc đói hay lúc no, sau khi ăn hay trong khi ăn... Đây là khâu rất quan trọng vì thực phẩm trong dạ dày hoặc ruột non có thể can thiệp vào quá trình hòa tan của thuốc và làm ảnh hưởng đến sự hấp thu thuốc.

Dụng cụ y tế cá nhân: Những sai lầm khi sử dụng!

Nếu máy đo đường huyết được xem là thần hộ mệnh của bệnh nhân đái tháo đường thì với những người bị bệnh cao huyết áp, huyết áp kế đã trở thành vật bất ly thân. Tương tự, máy xông mũi họng lại rất tiện lợi và hiệu quả khi dùng điều trị bệnh hô hấp… các thiết bị theo dõi sức khỏe cá nhân là những cuộc cách mạng trong theo dõi tình trạng bệnh lý và hỗ trợ điều trị. Tiếc thay, do những sai lầm khi sử dụng nên đã dẫn đến tình trạng: Lợi bất cập hạ


Ngộ nhận từ máy đo đường huyết Với suy nghĩ: “Kết quả từ máy đo đường huyết cá nhân là chính xác nhất và như thế không cần phải tiến hành các xét nghiệm sâu định kỳ như chỉ định của bác sĩ”, bác N.V.H (67 tuổi, ngụ tại quận 9, TP.HCM) đã phải trả giá đắt khi bác sĩ kết luận bệnh đã biến chứng sang tim và thận. Vừa hối hận vừa pha lẫn một chút tức tối, bác H. kể lại: “Tôi phát hiện bị bệnh đái tháo đường đã gần 10 năm. Trong suốt một thời gian dài tôi luôn tuân thủ chế độ điều trị của bác sĩ. Uống thuốc đều đặn, ăn uống kiêng khem phù hợp. Tập luyện thể dục thể thao. Và một điều không thể thiếu đúng như yêu cầu của bác sĩ là sử dụng máy đo đường huyết để tự theo dõi biến động đường huyết của mình. Tôi tự sử dụng máy để theo dõi đường huyết lúc đói, sau ăn nhằm phát hiện khẩn cấp hạ hoặc tăng đường huyết. Trong những năm đầu, bên cạnh việc theo dõi đường huyết tại nhà thì 3 tháng một lần tôi đều vào bệnh viện để làm các xét nghiệm sâu để kiểm tra tình trạng tim, gan, thận, mắt… Tuy nhiên, thời gian sau này, khi thử đường huyết bằng máy đo đường huyết cá nhân tôi thấy chỉ số luôn ở mức gọi là lý tưởng: từ 100 – 140mg. Và cũng vì nghĩ là lý tưởng nên không đi xét nghiệm sâu định kỳ theo chỉ định của bác sĩ. Chỉ vì ngộ nhận kết quả từ máy đo cá nhân là đúng và đủ nên hậu quả: bệnh đã biến chứng”.

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

Tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh từ nước ngọt có ga

Nước ngọt có ga là một loại nước uống quen thuộc. Hẳn ai cũng có cảm giác sảng khoái khi được uống ly nước ngọt có ga ướp lạnh đúng lúc trời nóng bức. Tuy nhiên, loại nước uống này tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ gây bệnh. 

Theo tuyên bố được đưa ra trong một hội nghị của Hiệp hội tim mạch Mỹ gần đây, nước giải khát có ga, nước quả ép sođa và nước tăng lực có thể liên quan đến cái chết của 180 nghìn người mỗi năm trên thế giới. 

Vậy chúng ta có nên tiếp tục sử dụng nước uống có ga hay không hay hoàn toàn quay lưng lại với chúng để đảm bảo sức khỏe?
Thông thường với một lượng uống vừa phải, nước ngọt có ga cung cấp một lượng chất ngọt vừa phải, làm dịu cơn khát và kích thích tiêu hóa, nhưng nếu dùng nhiều sẽ dẫn đến những nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe. 

Theo BS. Doãn Thị Tường Vi, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện 19.8, nước ngọt có ga chủ yếu chứa nhiều đường. Khi uống vào cơ thể được cung cấp thêm năng lượng, nhưng đây là năng lượng từ đường nên chủ yếu vẫn là kalo rỗng. Trong khi đóì nước ngọt thường thiếu các chất dinh dưỡng, vitamin, các muối khoáng, chất xơ… cần thiết cho cơ thể. 

Bên cạnh đó, trong nước ngọt có ga thường có thành axit photphoric, nên khi uống quá nhiều vào gây cản trở hấp thu canxi, làm tăng đào thải canxi ra theo đường nước tiểu. 

Có những loại nước ngọt có thành phần cafein thì khi uống xong ta cảm thấy rất thoải mái, sảng khoái, nhưng một lúc sau đó sẽ rất mệt. Có những người uống nhiều thì đau đầu, buồn nôn. Vì cafein là chất kích thích nên uống vào qua giai đoạn kích thích ban đầu sẽ dẫn đến giai đoạn hồi hộp, đánh trống ngực, loạnnhịp tim, hoảng hốt… 

Trong nước ngọt cũng thường dùng các chất bảo quản, chất bảo quản này vào cơ thể có thể ảnh hưởng không có lợi cho sức khoẻ. 

Thực tế cho thấy, nước ngọt có ga được xem là kẻ trực tiếp gây ra các căn bệnh thời hiện đại như: đái tháo đường, bệnh tim, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ. Nghiệm trọng hơn nó còn gây ra tử vong ở những người sử dụng quá nhiều. 

Theo VnMedia

Thuốc Adrenalin-1mg/ml chống sốc phản vệ

Chỉ định:

Ngất do bloc nhĩ thất hoàn toàn, hôn mê do giảm glucose huyết.

Chống chỉ định:

Cường giáp, suy tim, đau thắt ngực, tăng huyết áp, đái tháo đường, hen nặng hoặc quá mẫn với thuốc
Chú ý đề phòng:

Do Adrenalin có tác dụng co mạch ở một số vùng (da, mạch tạng) nhưng lại gây giãn mạch ở một số vùng khác (mạch não, mạch phổi), do đó có thể gây biến chứng đứt mạch máu não hoặc phù phổi cấp
Tác dụng ngoài ý:

Lo âu, run rẩy, mạch nhanh, loạn nhịp, khô miệng, lạnh các chi, phản ứng ảo giác có thể xảy ra.
Liều lượng:

Tiêm dưới da hoặc bắp thịt 
Theo chỉ dẫn của thầy thuốc điều trị 
Liều thông thường 1mg/ lần .Tối đa 2 mg/24 giờ.

Đã tìm ra phương pháp mới chữa khỏi HIV

Các nhà khoa học gần đây tiết lộ hai người bênh nhân HIV giấu tên đã không còn tồn tại virus HIV trong cơ thể và đã có thể ngưng dùng thuốc sau khi thực hiện cấy ghép tủy xương. 

Cho đến thời điểm hiện hại, những người đàn ông này đã ngưng sử dụng thuốc kháng virus được 15 tuần, điều đáng mừng là họ hoàn toàn không có dấu hiệu của virus HIV. 


Các chuyên gia cho biết dù kết luận những bệnh nhân này đã được chữa khỏi HIV là quá sớm nhưng những tiến bộ này thực sự là đáng khích lệ. Bởi virus HIV có thể vẫn tồn tại trong các cơ quan khác như gan, lá lách hoặc não và có thể trở lại một vài tháng sau đó. 

Hai bệnh nhân giấu tên này bị nhiễm HIV 30 năm trước, họ được các nhà khoa học lựa chọn để thử nghiệm các phương pháp chữa trị cho căn bệnh thế kỷ này. Một trong 2 người đã ngưng dùng thuốc 4 tháng trước, người còn lại đã ngưng dùng thuốc từ 7 tuần trước. 

Hiệp hội Quốc tế AIDS tại Malaysia tiết lộ hiện tại ngay cả khi bệnh nhân đã ngừng dùng thuốc kháng virus được một thời gian dài, vẫn chưa thấy có dấu hiệu nào của virus quay lại trong máu họ. 

Bước đầu thành công này có thể mở đường cho phương pháp điều trị mới cho 34 triệu người sống chung với AIDS. Hiện tại, ước tính ở Anh có khoảng 100.000 người bị nhiễm HIV, trong đó 20.000 người không được chẩn đoán chính thức. 

Tiến sĩ Michael Brady nhấn mạnh rằng cấy ghép tủy xương là một phương pháp phức tạp và tốn kém, có thể nguy hiểm hơn dùng thuốc. 

Trước đó, ông Timothy Ray Brown (47 tuổi, sống tại miền tây nước Mỹ) đã được công nhận là bệnh nhân nhiễm HIV đầu tiên được chữa khỏi. 

Sau khi được ghép tủy, Brown ngừng uống các loại thuốc kháng virus vốn giúp ức chế sự phát triển của HIV. Ba tháng sau khi ghép tủy, xét nghiệm cho thấy virus HIV đã biến mất, chỉ còn bệnh ung thư bạch cầu thì vẫn còn trên cơ thể ông.

Tháng 2/2009, các nhà khoa học Đức thông báo rằng cơ thể Brown đã gần như sạch bóng HIV, đây vẫn chưa phải là lời khẳng định chắc chắn nhất, vì họ nghi ngờ virus HIV có thể đang ẩn náu ở góc nào đó trong cơ thể ông.

                                                                                                           Theo Kiến Thức