Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

ĂN GẠO LỨT CHỮA BỆNH

Nếu thiếu sinh tố B1, chúng ta sẽ bị một căn bệnh gọi là "béribéri". Căn bệnh này được phát hiện lần đầu ở Ấn Độ, "béribéri" trong tiếng Ấn có nghĩa là "yếu", sau này người ta mới biết căn bệnh "yếu" đó là do thiếu sinh tố B1.

>>>Y học và hoa cúc tần
>>>Liên hương thảo:Vị thuốc an thần
>>>Ăn táo có lợi cho gan

Gạo lứt
Triệu chứng của căn bệnh là phù (da bủng), tê tứ chi, rủn gối (mất phản xạ gân xương), đi đứng khó khăn; nguy hiểm nhất là cơ tim bị phù nề, mất trương lực và bệnh nhân chết trong tình trạng suy tim. Trước đây, nhất là trước 1945, rất nhiều người ở nước ta mắc căn bệnh này, đặc biệt là công nhân ở các đồn điền cao su, hầm mỏ và trong các nhà tù. Khi bị bệnh, người ta tự chữa bằng cách ăn cám gạo (trong cám có chứa sinh tố B1), còn các thầy thuốc thì dùng sinh tố B1, hiệu quả rất nhanh.

Ngày nay, tuy cuộc sống khá hơn, nhưng một số người vẫn mắc chứng bệnh này và việc ăn "gạo lứt muối mè" trở thành trào lưu chữa bệnh. Ăn gạo lứt thường xuyên giúp cơ thể dẻo dai, gân cốt cứng cáp, hoạt bát, đỡ đau nhức xương khớp. Ở những người bị thừa cân (béo phì), nếu dùng gạo lứt lâu dài sẽ giảm cân và cũng gián tiếp tránh được bệnh tiểu đường (týp II).

Cách nấu và ăn cơm gạo lứt như sau: Trước khi nấu nên ngâm gạo bằng nước ấm, để hạt gạo ngấm đủ nước (trong vòng 20-30 phút), không nên vò xát mạnh (vì sẽ làm mất đi lớp màng), mà chỉ nên "rửa" gạo bằng cách gạn đi gạn lại cho sạch bụi. Khi nấu đổ nước vừa đủ, khi sôi cho lửa nhỏ, đậy vung thật kín, làm như vậy hạt cơm sẽ mềm và sinh tố B1 ít bị phân hủy. Khi ăn phải nhai kỹ và nhuyễn, nếu không sự tiêu hóa sẽ không trọn vẹn.

Nhai kỹ và nhuyễn có những lợi ích sau: Cơm được nghiền nát và được các men tiêu hóa có trong nước bọt làm cho tinh bột chuyển hóa thành đường (glucose) ngay từ trong miệng (nên khi nhai kỹ ta có cảm giác ngòn ngọt ở miệng, đó chính là do tinh bột đã chuyển thành glucose); Khi thức ăn xuống dạ dày và ruột sẽ được tiêu hóa tốt hơn, triệt để hơn và sẽ tránh cho dạ dày bị viêm loét. Đối với người thừa cân, việc nhai kỹ, ăn chậm sẽ giúp tăng cảm giác no (tức sẽ ăn ít hơn), và dần dần sẽ giảm được cân.

HOA MÀO GÀ TRỊ BÁCH BỆNH

Mào gà đỏ có tên khác là kê quan hoa, kê công hoa, kê cốt tử hoa, mồng gà, lão lai thiểu... Theo y học cổ truyền, hoa mào gà đỏ vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, trừ thấp, lương huyết, chỉ huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như xích bạch lỵ (bệnh lỵ trực khuẩn hoặc amip), trĩ lậu hạ huyết (trĩ xuất huyết), thổ huyết (nôn ra máu), khạc huyết (ho ra máu), tỵ nục (chảy máu mũi), huyết lâm (đái buốt và ra máu), băng lậu (rong huyết, rong kinh, băng huyết), đới hạ (khí hư), di tinh, đái dưỡng chấp...

>>>Trị đái dầm ở trẻ
>>>Những lợi ích sức khỏe của sô cô la đen
>>>Thận dê:Vị thuốc của quý ông
Hoa mào gà đỏ
Tăng huyết áp: Kê quan hoa 3-4 cái, hồng táo 10 quả, sắc uống hằng ngày.

Thổ huyết: Kê quan hoa (dùng cả cây) lượng vừa đủ, sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng tươi 15-24 g (loại khô dùng 6-15 g) hầm với phổi lợn lượng vừa đủ trong 1 giờ rồi chia ăn vài ba lần trong ngày.

Ho ra máu: Hoa mào gà trắng 30 g, trắc bá diệp 30 g, cỏ nhọ nồi 30 g, sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà tươi 24 g, rễ cỏ tranh tươi 30 g, sắc uống.

Lỵ trực khuẩn hoặc amip: Dùng hoa mào gà sắc với rượu uống; nếu là xích lỵ (phân có máu) dùng hoa màu đỏ, bạch lỵ (phân chỉ có nhày) dùng hoa màu trắng.

Thoát giang hạ huyết (lòi dom chảy máu): Kê quan hoa và phòng phong lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, vê thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống 70 viên với nước cơm khi đói. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng sao 30 g, tông lư thán 30 g, khương hoạt 30 g, tán thành bột uống mỗi lần 6 g với nước cơm.

Tiểu buốt và ra máu: Hoa mào gà trắng đốt tồn tính, mỗi ngày uống 15-20 g với nước cơm hoặc dùng hoa mào gà 15 g sắc uống.

Di tinh: Hoa mào gà trắng 30 g, kim ti thảo 15 g, kim anh tử 15 g, sắc uống.

Nhọt độc vùng gáy: Hoa mào gà tươi, nhất điểm hồng tươi và liên tử thảo tươi lượng bằng nhau, rửa sạch giã nát, chế thêm một chút đường đỏ rồi đắp vào tổn thương.

TRỊ ĐÁI DẦM Ở TRẺ

Chứng đái dầm là một chứng bệnh thông thường của trẻ em. Khoảng từ 15-20% trẻ em từ 5 tuổi trở xuống mắc chứng bệnh này. Vậy làm cách nào để cải thiện được tình trạng trẻ đái dầm? 

>>>Dưa lê có tác dụng chữa bệnh tuyệt vời
>>>Cây rau sam trị bệnh
>>>Ăn táo có lợi cho gan
Đái dầm ở trẻ nhỏ
Chứng đái dầm là gì?


Lương y Nguyễn Hồng Ánh cho biết, trẻ em thường ngủ mà đi tiểu không hay thì gọi là đái dầm.

- Đái dầm loại 1: Khoảng 15-20% trẻ em nam 5 tuổi, nữ 6 tuổi đái dầm thường xuyên.

- Đái dầm loại 2: Nếu trẻ từ 6-12 tuổi có lúc đái dầm, có lúc không đái dầm (có khi 6 tháng không đái dầm).

Ngoài ra, có khoảng 2-5% trẻ lớn rồi vẫn đái dầm, thậm chí ở tuổi vị thành niên mà vẫn đái dầm.

Nguyên nhân gây chứng đái dầm ở trẻ em

Theo Lương y Nguyễn Hồng Ánh, có một số nguyên nhân có thể gây chứng đái dầm ở trẻ em:

- Di truyền: nếu chỉ có bố hoặc mẹ có tiền sử tè dầm thì tỷ lệ con bị là 44%, nếu cả cha và mẹ đều từng bị tè dầm thì tỷ lệ con bị là 77%.

- Rối loạn giấc ngủ: Khó thức dậy từ giấc ngủ sâu dù khi ấy bàng quang căng đầy nước tiểu.

- Chậm phát triển hệ thần kinh trung ương làm giảm khả năng kiểm soát nín tiểu của bàng quang khi trẻ ngủ.

- Nội tết: Không đủ hormon bài niệu ADH (hormon này có tác dụng làm giảm số lượng bài tiết nước tiểu từ thận).

- Nhiễm trùng tiết niệu.

- Dị dạng đường tiết niệu: Bất thường van niệu quản ở trẻ trai hoặc bất thường niệu đạo ở trẻ gái. Bàng quang nhỏ hơn bình thường làm giảm khả năng giữ được nước tiểu lâu trong bàng quang.

- Bất thường cột sống.

- Tâm lý: Một số trẻ đái dầm do có lo âu sau sang chấn tâm lý ở nhà hoặc ở trường.

- Do gia đình ít luyện tập cho trẻ đi tiểu trước khi ngủ .

NHỮNG LỢI ÍCH SỨC KHỎE CỦA SÔCÔLA ĐEN

Sôcôla đen gần đây được phát hiện 1 số lợi ích cho sức khỏe. Trong khi ăn sôcôla đen có thể dẫn đến 1 số lợi ích dưới đây, nên nhớ rằng sôcôla có hàm lượng chất béo cao.

>>>Thận dê:Vị thuốc của quý ông
>>>Y học và hoa cúc tần
>>>Liên hương thảo:Vị thuốc an thần

Sô cô la
- Sôcôla đen tốt cho tim mạch

Theo nghiên cứu cho thấy ăn 1 lượng nhỏ sôcôla đen 2 hay 3 lần mỗi tuần có thể giúp hạ huyết áp của bạn. Sôcôla đen cải thiện lưu lượng máu và có thể giúp ngăn chặn sự hình thành máu cục. Ăn sôcôla đen còn có thể ngăn chặn xơ cứng động mạch.

Sôcôla đen tăng cường lưu lượng máu lên não cũng như với tim, nên nó có thể giúp tăng cường chức năng nhận thức. Sôcôla đen còn giúp giảm rủi ro đột quỵ.

Sôcôla đen còn chứa 1 số hợp chất hóa học có tác động tích cực đến tâm trạng và sức khỏe của bạn. Sôcôla chứa phenylethylamine (PEA), cùng 1 chất hóa học ở trong não bạn tạo ra khi bạn cảm thấy như mình đang yêu. PEA thúc não bạn giải phóng endorphins, vậy nên ăn sôcôla đen sẽ làm bạn cảm thấy hạnh phúc hơn.

Sôcôla đen còn chứa cafein, 1 chất kích thích nhẹ. Tuy nhiên, sôcôla đen chứa ít cafein hơn cà phê. 1,5 aoxơ của 1 thanh sôcôla đen chứa 27 mg cafein, so sánh với 200 mg được tìm thấy trong 8 aoxơ của 1 cốc cà phê.

- Sôcôla đen giúp kiểm soát đường huyết

Sôcôla đen có thể giúp giữ cho mạch máu của bạn được khỏe mạnh và sự lưu thông của bạn vẫn nguyên vẹn để bảo vệ chống lại bệnh đái tháo đường loại 2. Chất flavonoids trong sôcôla đen còn giúp giảm sức đề kháng insulin bằng cách giúp các tế bào của bạn hoạt động bình thường và lấy lại khả năng sử dụng insulin của cơ thể một cách hiệu quả. Sôcôla đen cũng có chỉ số glycemic thấp, nghĩa là nó sẽ không gây đột biến lớn trong mức độ đường trong máu.

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

THẬN DÊ:VỊ THUỐC CỦA QUÝ ÔNG

Dương thận vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận khí, ích tinh tủy, thường được dùng để chữa các chứng thận lao hư tổn, lưng đau gối mỏi, tai ù, tai điếc, liệt dương, di hoạt tinh, yếu sinh lý, đi tiểu đêm nhiều lần... 

>>>Quả cà chua tốt cho sức khỏe
>>>Cây chàm mèo:Vị thuốc quý trong dân gian
>>>Cây rau sam trị bệnh
Thận dê
Dương thận thường được sử dụng dưới dạng kết hợp với một số thực phẩm hay dược liệu để chế biến thành những món ăn - bài thuốc hấp dẫn vừa có công dụng bổ dưỡng lại vừa có tác dụng phòng chống bệnh tật.

Dưới đây, xin giới thiệu một số công thức điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng.

Bài 1: Dương nội thận 1 quả, thịt dê 60g, lá Kỷ tử 250g (có thể thay bằng Kỷ tử 100g), Gạo tẻ 60 - 90g, Hành củ và gia vị vừa đủ. Dương thận rửa sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; thịt dê rửa sạch, thái quân cờ; sắc kỹ Kỷ tử rồi bỏ bã lấy nước, cho Thận và Thịt dê vào ninh nhừ với Gạo thành cháo, nêm gia vị vừa đủ, chia ăn vài lần trong ngày.

Công dụng: Bổ thận âm, ích thận khí, tráng nguyên dương, dùng trị các chứng lưng đau gối mỏi, tai ù, di niệu do thận hư, nam giới liệt dương, suy giảm khả năng tình dục.

Bài 2: Dương nội thận (tinh hoàn) 1 quả, Nhục thung dung 30g. Dương thận rửa sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; Nhục thung dung tẩm rượu một đêm rồi thái lát, đem hầm cùng với dương thận, khi chín chế thêm gia vị, ăn nóng.

Công dụng: Bổ thận tráng dương, nhuận tràng thông tiện, dùng cho những người bị liệt dương, yếu sinh lý, táo bón do mệnh môn hỏa suy.

Bài 3: Dương ngoại thận 1 đôi, nước hầm xương lợn 1 bát, tủy lợn một đoạn, gia vị vừa đủ. Dương ngoại thận rửa sạch, thái miếng; đun nước hầm xương lợn cùng với gia vị và tủy lợn trong 15 phút, sau đó cho dương ngoại thận vào đun thêm chừng 3 phút là được, múc ra bát, ăn nóng.

Công dụng: Ích tinh, trợ dương, bổ thận, được dùng để chữa các chứng muộn con, liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, đau lưng mỏi gối, suy giảm ham muốn tình dục, suy nhược cơ thể...

Bài 4: Dương nội thận 1 đôi, Nhục thung dung 25g, Thảo quả 5g, Trần bì 5g, Mỡ dê 100g, gia vị vừa đủ. Thận dê làm sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; mỡ dê thái miếng; sắc kỹ các vị thuốc rồi bỏ bã lấy nước, đem hầm với thận và mỡ dê, khi chín chế thêm gia vị, ăn nóng.

Công dụng: Bổ thận tráng dương, ôn trung kiện tỳ, nhuận tràng thông tiện, được dùng để chữa các chứng liệt dương, di hoạt tinh, đau lưng mỏi gối, tay chân lạnh, táo bón do thận dương hư.

Bài 5: Dương ngoại thận 1 đôi, Nhung hươu 3g, Rượu trắng 500ml. Dương ngoại thận tươi (lấy từ dê núi là tốt nhất), rửa sạch huyết rồi đem ngâm cùng Nhung hươu với Rượu trắng chừng 15 ngày là được, mỗi ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20ml, kiêng hành, gừng, tỏi và hạt tiêu.

Công dụng: Bổ thận tráng dương, ích tinh dưỡng huyết, dùng để chữa chứng liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục, tinh dịch lạnh loãng, suy giảm số lượng và chất lượng tinh trùng...

Bài 6: Dương nội thận 1 quả, Bạch tật lê sao qua 120g, Long nhãn 120g, Dâm dương hoắc 120g, Tỏa dương 120g, Ý dĩ 120g. Tất cả đem ngâm với rượu trắng chừng 15 ngày, mỗi ngày uống 20ml.

Công dụng: Ôn thận tráng dương, ích tinh bổ tủy, khu phong trừ thấp, dùng trị các chứng liệt dương, di mộng tinh, tinh lạnh, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc ở người già do thận hư.

Theo quan niệm của Y học cổ truyền, một trong những chức năng quan trọng của tạng thận là chủ về sinh dục. Dê lại là một trong những loài động vật có khả năng hoạt động sinh dục mạnh mẽ và bền bỉ, bởi vậy, quả thận và tinh hoàn của dê đã được người xưa sử dụng làm thức ăn và làm thuốc để chữa trị các chứng bệnh thuộc hệ sinh dục từ rất sớm. Đây là một trong những ví dụ điển hình của việc áp dụng học thuyết “dĩ tạng bổ tạng”, “dĩ tạng liệu tạng” (lấy tạng để bồi bổ và chữa bệnh của tạng) trong Y học cổ truyền.

Y HỌC VÀ HOA CÚC TẦN

Cây nhỏ cao 2-3m, cành gầy; lá gần giống hình bầu dục, hơi nhọn đầu, gốc thuôn dài, mép lá có răng cưa, mặt dưới có lông mịn, phiến dài 4-5cm, rộng 1-2,5cm. Toàn cây (lá, cành, rễ) đều có thể dùng làm thuốc. Lá thường dùng tươi (hái lá non và lá bánh tẻ) thu hái quanh năm, cành và rễ thường dùng khô, làm thuốc.

>>>Hoa thiên lý chữa trĩ hiệu quả
>>>Vị thuốc quý:Nấm kim châm
>>>Tác dụng chữa bệnh của cây gừng gió

Hoa cúc tần
Trong toàn cây chủ yếu có tinh dầu mùi thơm đặc trưng. Theo y học cổ truyền: cúc tần có vị đắng, cay, thơm, tính ấm. Chủ trị cảm sốt ho, bụng trướng, nôn oẹ, tiêu độc, tiêu đờm, bí tiểu tiện, phong thấp, đau mỏi lưng. Dùng dưới dạng thuốc sắc (ngày uống 10-20g) hay thuốc xông. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Chữa nhức đầu cảm sốt: Lá cúc tần tươi 2 phần, lá sả một phần, lá chanh một phần (mỗi phần khoảng 8-10g) đem sắc với nước, uống khi còn nóng. Cho thêm nước vào phần bã đun sôi, dùng để xông.

Cũng có nơi nhân dân dùng lá cúc tần phối hợp với lá bàng (có tính mát) và lá hương nhu, sắc uống có công dụng chữa cảm sốt.

Chữa đau mỏi lưng: Lấy lá cúc tần và cành non đem giã nát, thêm ít rượu sao nóng lên, đắp vào nơi đau ở hai bên thận.

Chữa chấn thương, bầm giập: Lấy lá cúc tần giã nát nhuyễn đắp vào chỗ chấn thương sẽ mau lành.

LIÊN HƯƠNG THẢO:VỊ THUỐC AN THẦN

Lá mọc thẳng từ gốc, hình tim, dài 3-6cm, rộng 2,5-4cm, cuống lá dài có bẹ và có lông; các lá ở gốc có phiến to hơn. Cụm hoa mọc thẳng đứng ở giữa túm lá thành xim phân đôi trên một cán dài 20-40cm; lá bắc hẹp; hoa nhỏ màu trắng, đài có 5 răng nhỏ, tràng 5 cánh hợp thành ống hẹp, nhị rất dài vượt ra ngoài tràng. Quả bế dẹt, có đài tồn tại.

>>>Cây rau sam tri bệnh
>>>Dưa lê có tác dụng chữa bệnh tuyệt vời
>>>Ngải cứu là bài thuốc,món ngon chữa nhiều bệnh

Liên hương thảo

Cây mọc hoang chỉ thấy phân bố ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai (Sapa, Bát Xát, Bắc Hà), Nghệ An (Mường Lống), Hà Giang (Đồng Văn, Mèo Vạc). Độ cao phân bố từ 1.300-1.600m. Bộ phận dùng làm thuốc của liên hương thảo là cả cây, nhất là rễ, chứa tinh dầu thơm (mùi này chỉ xuất hiện khi cây chuyển từ tươi sang khô) và những ester đặc biệt có tác dụng gọi là valepotriat. Hoạt chất này có hàm lượng cao nhất trong liên hương thảo so với nhiều loài khác cùng chi trên thế giới.

Theo kinh nghiệm dân gian, rễ liên hương thảo, thu hái quanh năm, phơi hoặc sấy khô, được dùng chữa đau dạ dày do co thắt, sốt cao co giật, nhức đầu, đau khớp, thủy thũng, kinh nguyệt không đều, đòn ngã tổn thương, mụn nhọt và làm thuốc an thần chống lo âu, phiền muộn, bồn chồn, hay hoảng hốt. Khi dùng, lấy 10g dược liệu thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày. Hoặc tán dược liệu, rây thành bột mịn, uống mỗi ngày 1-4g với nước ấm. Có thể ngâm dược liệu với cồn 60o với tỷ lệ 1/5 trong nhiều ngày, rồi uống mỗi ngày 2-10g hoặc nấu thành cao mềm, mỗi ngày dùng 1-4g.

Để chữa mất ngủ, tim hồi hộp, lấy liên hương thảo 9g phối hợp với lá tai chuột 9g, hà thủ ô 30g, lá thông 30g, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Dùng ngoài, rễ liên hương thảo tươi giã nát, chữa vết thương phần mềm và mụn nhọt.

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

ĂN TÁO CÓ LỢI CHO GAN

Táo là một loại quả rất có lợi cho sức khỏe. Táo giúp giảm stress, tốt cho tim mạch, huyết áp, ngăn ngừa loãng xương, cho làn da sáng đẹp. Ngoài ra, táo còn có thêm một lợi ích tuyệt vời nữa là rất tốt cho gan nếu sử dụng táo đều đặn mỗi ngày. 

>>>Chữa được nhiều bệnh bằng lá sen
>>>Tác dụng không thể ngờ của cà chua đen
>>>Những thực phẩm trị sỏi thận
Ăn táo đều đặn rất tốt cho gan

Theo Thầy thuốc ưu tú, Ths. Bs. Doãn Thị Tường Vi, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện 19.8, trong 100 gram táo, tỷ lệ đường chiếm từ 6 - 12 gram, bên cạnh đó hàm lượng vitamin và muối khoáng rất phòng phú, dồi dào như: vitamin C, các vitamin nhóm B, canxi, sắt, kẽm, kali… Các vitamin và muối khoáng này tham gia vào quá trình tổng hợp, chuyển hóa và bài tiết của các cơ quan chức năng của cơ thể. Vì vậy, khi ăn táo vào sẽ kích hoạt các enzym ở trong gan và các enzym này có tác dụng tăng quá trình thải độc đối với gan.
Ngoài ra, khi ăn táo còn cung cấp các chất pectin, chất này giúp làm sạch hệ thống đường ruột, hút hết các chất độc trong lòng ruột ra để cho các thực phẩm khi hấp thu vào cơ thể không mang theo chất độc, như vậy sẽ đỡ quá tải cho gan.

Trong táo có hàm lượng chất xơ rất cao, tính trung bình trong mỗi quả táo chứa từ 4 - 5 gram chất xơ, có tác dụng kích thích nhu động ruột, hạn chế táo bón, giúp nhuận tràng, quét tất cả các chất béo thừa trong lòng ruột ra khỏi cơ thể để các chất dinh dưỡng hấp thu vào cơ thể sẽ được cân đối. Vì vậy, sẽ không gây quá tải cho gan trong quá trình hấp thu dinh dưỡng và đào thải các độc tố ra khỏi cơ thể.

Tuy nhiên, có một điều mà các bà nội trợ thường xuyên lo lắng là làm thế nào để yên tâm về nguồn gốc xuất xứ của táo cũng như sử dụng quả táo thế nào là tốt nhất, bởi nếu ăn một quả táo không an toàn là đang làm hại lá gan của chính mình.

CÂY RAU SAM TRỊ BỆNH

Cây rau sam còn có nhiều tên gọi khác như mã xỉ hiện, mã xỉ thái, trường thọ thái... Nó thường mọc hoang ven đường, bờ ruộng, sống nhiều năm. Có thể dùng toàn cây làm thuốc.

>>>Tía tô có công dụng chữa bệnh tuyệt vời
>>>Rau diếp cá có nhiều tác dụng chữa bệnh
>>>Chữa được nhiều bệnh bằng lá sen


Rau sam có thể làm thuốc
Một số bài thuốc Nam có rau sam thường dùng trong dân gian:

-Chữa viêm tuyến vú: Rau sam 50 g, phác tiêu 6 g, giã nát đắp vào chỗ đau.

-Chữa đái ra máu: Rau sam 60 g, mã đề 7 cây. Sắc uống ngày một thang. Uống liền 3 ngày, kiêng thức ăn cay.

-Chữa lỵ: Rau sam 30 g, lá mơ lông 20 g, cỏ seo gà 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang.

Hoặc: Rau sam 30 g, hoa dâm bụt trắng 15 g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa viêm gan virus: Rau sam 150-400 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.

-Chữa quai bị: Rau sam giã nát, đắp vào chỗ sưng đau.

-Chữa rôm sảy: Rau sam tươi lượng vừa đủ, giã nát lấy nước pha tắm.

Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

DƯA LÊ CÓ TÁC DỤNG CHỮA BỆNH TUYỆT VỜI

Dưa lê là một trong những trái cây thuộc họ nhà dưa, có vị ngọt khi chín. Loại trái cây phổ biến ở châu Á mùa hè này không chỉ mang vị thơm, ngon ngọt mà còn mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. 

>>>Ngải cứu là bài thuốc,món ngon chữa nhiều bệnh
>>>Muốn đẹp da nên tìm hiểu cách ăn uống
>>>Hoa đại là nguyên liệu chính trong canh quý

Dưa lê mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe
Dưa lê là một trong những loại trái cây phổ biến ở các nước nhiệt đới. Dưa lê có mùi thơm và thường được dùng làm món tráng miệng. Có hai loại dưa lê là dưa da trơn và dưa da sần.

Dưa lê có hàm lượng vitamin A, B, C và chất khoáng như magie, natri khá cao, không có cholesterol. Những người muốn giảm cân nên bổ sung dưa lê vào thực đơn ăn kiêng của họ.

Vì có chứa nhiều kali, dưa lê giúp điều hòa huyết áp tốt và có thể giúp ngăn ngừa được triệu chứng đột quỵ. Chất kali có trong loại trái cây này có thể giúp ngăn ngừa bệnh sỏi thận.

Dưa lê có một hàm lượng chất xơ khá cao, vì vậy nó giúp giảm nhẹ được chứng táo bón. Các nhà nghiên cứu tin rằng loại trái cây này có thể ngăn ngừa sự lão hóa của xương trong cơ thể người.

Dưa lê giàu vitamin C, mà đó cũng là một chất chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa các bệnh về tim mạch và thậm chí cả ung thư. Bên cạnh đó, dưa lê có chứa cả chất beta-carotene. Sự kết hợp giữa beta- carotene và vitamin C có thể giúp ngừa được nhiều căn bệnh mãn tính .

Nước ép dưa lê cũng có thể giúp cải thiện được tình trạng khó thở, giảm được sự mệt mỏi, chữa được chứng mất ngủ.

Do chứa hàm lượng axit folic cao, dưa lê rất có lợi cho phụ nữ mang thai, giúp cho bào thai khỏe mạnh. Nó cũng giúp ngăn ngừa chứng loãng xương, chống lại sự suy nhược của cơ thể.

Giúp da sáng đẹp hơn

Dưa lê là một trong những trái cây giàu vitamin C-một loại vitamin chống oxi hóa giúp tăng nồng độ collagen, loại protein giúp da khỏe và trẻ trung. Vitamin C cũng đóng vai trò quan trọng trong chức năng của hệ miễn dịch và có thể giúp chống lại virut gây sốt và cảm cúm. Mặt khác, vitamin C giúp hấp thụ chất sắt. Chỉ cần ăn một quả dưa lê cỡ trung bình cũng sẽ giúp bạn nhận đủ lượng vitamin C cần thiết mỗi ngày.

Giúp hạ huyết áp

Dưa lê cũng giàu hàm lượng kali, một loại khoáng chất đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp. Kali cũng cần thiết cho mọi tế bào trong cơ thể, nó giúp tế bào khỏe mạnh và có sức đề kháng với nhiều bệnh tật.

NGẢI CỨU LÀ BÀI THUỐC,MÓN NGON CHỮA NHIỀU BỆNH

Ngải cứu có thể dùng để chế biến các món ăn hoặc được sao khô lên làm thuốc. Dù dùng ở bất kì hình thức nào thì cây ngải cứu cũng có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe và chữa bệnh.

>>>Muốn đẹp da nên tìm hiểu cách ăn uống
>>>Hoa đại là nguyên liệu chính trong canh quý
>>>Ngũ vị đối với sức khỏe của chúng ta

Ngải cứu có rất nhiều tác dụng với sức khỏe và chữa bệnh
Cây ngải cứu có tên khoa học là Artemisia Vulgaris, thường có mùi thơm nồng và có vị hơi đắng hoặc rất đắng tùy theo mùa. Ngải cứu có thể dùng để chế biến các món ăn hoặc được sao khô lên làm thuốc. Dù dùng ở bất kì hình thức nào thì cây ngải cứu cũng có rất nhiều tác dụng đối với sức khỏe và chữa bệnh.

Bài thuốc trị bệnh từ cây ngải cứu

- Bài 1: Dùng 200gr lá thuốc cứu sao vàng, nấu trong 250ml nước còn 100ml. Chia làm 2 phần, uống trong ngày. Có thể tán nhuyễn, hãm 50ml nước sôi với 10gr thuốc cứu bột, uống mỗi lúc khát, liên tục 2 ngày.

Công dụng: Chữa đi lỵ ra máu, thân nhiệt nóng, viêm xoang mũi, chảy máu cam, phụ nữ bị sản hậu, băng huyết:

- Bài 2: Dùng 300gr thuốc cứu rửa sạch, giã nát, thêm 2 muỗng mật ong (ruồi, nghệ), vắt lấy nước uống trưa, chiều. Liên tục 1-2 tuần.

Công dụng: Trị đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương chân tay, các đốt xương cột sống, đau đầu hoa mắt, ghẻ lở do nghiện rượu, ngộ độc rượu lạ.

- Bài 3: Dùng 250gr thuốc cứu, 2 quả lê, 20gr câu kỷ tử, 10gr đinh quy, 1 con gà ri (gà ác) 150gr, hầm trong 0,5 lít nước (thêm gia vị, bột nêm) còn 250ml. Chia làm 5 phần, ăn cả ngày. Liên tục 1-2 tuần.

Công dụng: Điều trị cơ thể suy nhược, trẻ gầy còi xương, biếng ăn, người già ăn không ngon miệng, bỏ ăn:

- Bài 4: Dùng 300gr thuốc cứu, 100gr lá khuynh diệp, 100gr lá bưởi (hoặc quýt, chanh). Nấu trong 2 lít nước. Sôi 20 phút nhắc xuống, xông 15 phút.

Cách thứ 2: Nấu lá thuốc cứu với 100gr lá tía tô, 100gr tần dầy lá, 50gr lá sả trong 1 lít nước còn 0,5 lít. Uống mỗi lúc khát, liên tục 3-5 ngày. Công dụng: Trị cảm cúm, ho, đau cổ họng, nhức hai bên thái dương, dây thần kinh cổ, gáy:

- Bài 5: Dùng 16gr lá ngải cứu, 16gr lá tía tô, sắc cùng với 600ml nước, sắc còn 100ml, chia làm 3-4 lần uống/ngày.

Công dụng: Bài thuốc này có tác dụng an thai. Ngải cứu không có tác dụng kích thích với tử cung có thai nên không gây sảy thai.

- Bài 6: Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục như vậy sẽ có làn da trắng sáng hồng. Với trẻ em thường hay bị rôm sảy thì lấy lá ngải cứu xay nát rồi lọc lấy nước cho trẻ tắm.

Công dụng: Trị mụn, mẩn ngứa

- Bài 7: Lấy 300gr ngảic cứu rửa sạch, giã nát, thêm 2 muỗng mật ong (ruồi, nghệ), vắt lấy nước uống trưa, chiều. Uống liên tục trong 1-2 tuần.

Công dụng: Trị đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương, đau đầu hoa mắt.

- Bài 8: Lấy 250gr ngải cứu, 2 quả lê, 20gr câu kỷ tử, 10gr đinh quy, 1 con gà ri (gà ác) 150gr, hầm trong 0,5 lít nước (thêm gia vị, bột nêm) còn 250ml. Chia làm 5 phần, ăn cả ngày. Liên tục 1-2 tuần.

Công dụng: Điều trị suy nhược cơ thể, kém ăn.

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

MUỐN ĐẸP DA NÊN TÌM HIỂU CÁCH ĂN UỐNG

Vào mùa nắng nóng, để giữ làn da đẹp, bạn cần bổ sung đủ nước cho cơ thể ít nhất 1- 2 lít/ngày; khi hoạt động ngoài nắng hoặc làm việc nặng thì uống nhiều hơn bình thường (2-4 lít/ngày).

>>>Thực phẩm chữa bệnh về thiếu máu
>>>Ô mai:vị thuốc quý,món ăn ngon
>>>Lợi ích của quả nho

Cà rốt có nhiều vitamin A
Trong thực đơn nên tránh các món nhiều đường, mỡ, chất cay nóng, các loại nước ngọt có gas, rượu, cà phê…

Nên ăn các loại quả chứa nhiều vitamin.

-Vitamin A có nhiều trong rau quả có màu đỏ cam (như cà chua, cà rốt, sữa và các chế phẩm từ sữa, trứng, thịt...) rất có tác dụng trong việc trẻ hóa tế bào da.

-Vitamin E (có nhiều trong các loại dầu thực vật như dầu ô liu, hạt dẻ…) tác dụng rất tốt trong việc chống lại tia cực tím; vitamin C có nhiều trong các loại thức ăn có vị chua (như cam, chanh, bưởi…) bảo vệ hiệu quả thành mạch, giúp da tổng hợp collagen; vitamin B có nhiều trong rau, đậu, sữa, thịt bò, thịt gà… trị các bệnh ban nhiệt do thời tiết nóng.

HOA ĐẠI LÀ NGUYÊN LIỆU CHÍNH TRONG CANH QUÝ

Hoa đại (bông sứ) là loại cây được trồng làm cảnh. Tuy nhiên, ít người biết loài hoa này còn có nhiều giá trị dinh dưỡng, giá trị dược liệu.

>>>Ngũ vị đối với sức khỏe của chúng ta
>>>Trị viêm phế quản
>>>Tâm sen điều trị mất ngủ hiệu quả

Hoa đại nhiều giá trị dinh dưỡng,giá trị dược liệu
Có 9 món canh sau đây từ nguyên liệu chính là hoa đại, chế biến đơn giản nhưng là những bài thuốc quý:

1. Hoa đại và mồng tơi (mỗi thứ 20 g). Nấu canh ăn 2-3 bữa/tuần. Món ăn này có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, mát gan, thận, nhuận phế; thích dụng cho người âm hư hỏa vượng, nóng trong người, háo khát, tăng huyết áp, táo bón, tiểu gắt, tiểu khó…

2. Hoa đại 15 g, mộc nhĩ đen 10 g, nấm rơm 20 g. Nấu canh ăn hằng ngày có tác dụng tư âm nhuận phế, bổ ngũ tạng, thanh can, ích tinh tủy, lương huyết, hoạt huyết; thích dụng cho người suy nhược thần kinh, mỡ máu cao, gan nhiễm mỡ, tăng huyết áp, tiểu đường, mất ngủ, trẻ hóa tế bào, yếu sinh lý...

3. Hoa đại và lá dâu tươi (mỗi thứ 20 g), thịt hến 30 g. Nấu canh ăn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tư âm, giáng hỏa, nhuận phế, mạnh đại tràng; thích dụng cho những người tăng huyết áp, tim mạch, táo bón kéo dài, tiểu đục, tiểu đêm, u xơ tiền liệt tuyến, viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, tiểu đường, cải thiện triệu chứng của mãn kinh…

4. Hoa đại 10 g, thịt nạc heo và nấm kim châm (mỗi thứ 30 g). Nấu canh ăn 2-3 bữa/tuần; có tác dụng bồi bổ ngũ tạng, hạ áp, an thần, thư cân lạc; thích dụng cho người suy nhược cơ thể, căng thẳng thần kinh, tăng huyết áp, người lao động nặng.

5. Hoa đại 15 g, mồng tơi và rau đay (mỗi thứ 20 g). Nấu canh ăn có tác dụng thanh can, hạ áp, nhuận phế hoạt trường; thích dụng cho người âm hư hỏa vượng, tăng huyết áp, tiểu đường, người già, táo bón kinh niên hoặc ốm, liệt lâu ngày khó đi đại tiện, cải thiện triệu chứng của thời kỳ mãn kinh.

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

NGŨ VỊ ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CỦA CHÚNG TA

Sức khỏe của con người là rất quan trọng.Chúng ta cần phải giữ sức khỏe cho thật tốt. Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Đông y việt nam xin giới thiệu ngũ vị trong ăn uống gồm có 5 vị :Chua,cay,mặn,đắng,ngọt.Chúng ta nên dùng đúng liều lượng để có một sức khỏe thật tốt.

Chanh có tác dụng kích thích sự thèm ăn,tăng sức mạnh cho gan...
*Vị chua

Do axit hữu cơ sản sinh ra, có tác dụng kích thích sự thèm ăn, làm khỏe tì vị, tăng sức mạnh cho gan, nâng cao khả năng hấp thụ phốt pho và canxi.

*Vị cay

Chủ yếu do kiềm ớt (capsium annormi) sinh ra, có tác dụng tăng co bóp của dạ dày, tăng cường sự bài tiết của dịch tiêu hoá, tăng cường hoạt tính của Amilada, tăng sự tuần hoàn của huyết dịch và trao đổi chất của cơ thể; có tác dụng đánh gió, giải lạnh, thư giãn gân cốt và lưu thông máu.

*Vị đắng

Chủ yếu do kiềm hữu cơ trong đồ ăn sinh ra, có tác dụng lợi tiểu, điều tiết gan, thận.

*Vị  mặn

Chủ yếu sinh ra từ muối ăn, nó là nguồn natri và clo. Vị mặn có thể giữ được cân bằng áp lực thẩm thấu giữa huyết dịch và tế bào, điều tiết quá trình trao đổi muối – nước. Khi bị thổ tả nặng, đi tướt nặng hay mất nước nguy kịch, bổ sung một lượng muối nhạt sẽ ngăn được hiện tượng thất thoát lớn cho các nguyên tố vi lượng trong cơ thể.

*Vị ngọt

Do đường sinh ra, là nguồn nhiệt lượng chủ yếu cho cơ thể con người. Vị ngọt có tác dụng bồi bổ khí huyết, giải độc.

Tính chất chung của ngũ vị là như vậy, tuy nhiên, không phải vì thế mà ai cũng sử dụng đồng đều được như nhau. Áp huyết cao phải kiêng bớt mặn, tiểu đường kiêng bớt ngọt... Dư thừa cho dù là chất bổ cũng không phải là tốt, hụt thiếu một chất nào đó cũng không phải là hay.Khi dùng chỉ có đúng mức, đúng liều lượng mới là điều hợp lý nhất.


Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

TRỊ VIÊM PHẾ QUẢN

Mùa đông, thời tiết lạnh kèm hanh khô khiến làm gia tăng bệnh viêm phế quản nhất là ở trẻ em và người già. Theo Đông y, viêm phế quản thuộc phạm vi của chứng khái thấu, đàm ẩm. Nguyên nhân là do ngoại cảm phong hàn, phong nhiệt và khí táo. Sau đây là một số bài thuốc chữa viêm phế quản theo từng thể bệnh:


Hạnh nhân
Thể phong hàn: gặp ở giai đoạn đầu của viêm phế quản cấp. Người bệnh có biểu hiện ho ra đờm loãng, trắng, dễ khạc, sốt, sợ lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi, ngứa cổ, khàn tiếng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù. Phép trị là tán hàn, tuyên phế (chữa ho trừ đờm). Dùng một trong các bài thuốc sau:

Bài 1: tía tô 12g, lá hẹ 10g, trần bì 6g, kinh giới 10g, xuyên khung 6g, bạch chỉ 8g, rễ chỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: (Hạnh tô tán): hạnh nhân 10g, tô diệp 10g, tiền hồ 10g, bán hạ chế 6g, chỉ xác 6g, gừng 3 lát, trần bì 4g, phục linh 6g, cam thảo 6g, cát cánh 8g, đại táo 4 quả. Tất cả tán bột uống ngày 15 - 20g chia làm 2 lần.

Bài 3: (Chỉ khái tán): hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, tiền hồ 12g, tử uyển 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

- Nếu lưỡi nhờn, rêu lưỡi trắng, gia: bán hạ chế 12g, trần bì 8g.

- Nếu hen suyễn bỏ cát cánh, thêm ma hoàng 6g.

Thể phong nhiệt: Gặp ở viêm phế quản cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn. Người bệnh có biểu hiện ho, khạc nhiều đờm màu vàng, trắng dính, họng khô đau, sốt, nhức đầu, sợ gió, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác. Phép trị là sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế (chữa ho trừ đờm). Dùng một trong các bài:

Bài 1: tang diệp 16g, rễ cây chanh 8g, rễ cây dâu 12g, bán hạ chế 6g, bạc hà 8g, cúc hoa 8g, rau má 12g, xạ can 4g, lá hẹ 8g, rễ chỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: (Tang hạnh thang gia giảm): tang diệp 12g, hạnh nhân 8g, tiền hồ 8g, chi tử 8g, bối mẫu 4g, sa sâm 8g, tang bạch bì 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: (Tang cúc ẩm gia giảm): tang diệp 12g, cúc hoa 12g, liên kiều 12g, ngưu bàng tử 12g, bạc hà 6g, cát cánh 8g, hạnh nhân 12g, tiền hồ 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

- Nếu đờm nhiều vàng dính kèm theo sốt, bỏ tang diệp, cúc hoa, bạc hà, ngưu bàng; gia hoàng cầm 12g, ngư tinh thảo 20 - 40g.

NHỮNG LOẠI BỆNH CHỮA TRỊ BẰNG RAU CẦN

Rau cần là loại rau thông dụng và có thể sử dụng làm thuốc. Theo Đông y học: Rau cần có vị ngọt, cay; tính mát; vào các kinh Phế và Vị. Có tác dụng thanh nhiệt, bình can, khư phong, lợi thấp, tỉnh não kiện thần, nhuận phế chỉ khái v.v... Có thể sử dụng để chữa cao áp huyết, mạch máu xơ cứng, thần kinh suy nhược, kinh nguyệt không đều v.v... Một số ứng dụng cụ thể:

Rau cần có tác dụng thanh nhiệt,bình can,khư phong...
1- Chữa viêm phế quản: Dùng gốc rau cần - liền cả rễ 100g, vỏ quít 9g, kẹo mạch nha (di đường) 30g. Cách dùng: Trước hết cho kẹo mạch nha vào nồi đun sôi, tiếp đó cho gốc rau cần và vỏ quít vào sao cháy, đổ thêm nước vào sắc lấy nước uống trong ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).

2- Chữa suyễn thở do viêm khí quản mạn tính: Rễ rau cần 15g, kinh giới tuệ (hoa kinh giới) 6g, hoa tiêu 10 hạt, phục linh 9g, đường phèn 12g. Cách dùng: Rễ rau cần, hoa tiêu và phục linh sắc trước, đun sôi trong 10 phút, cho thêm kinh giới tuệ vào đun sôi thêm trong 5 phút, chắt lấy nước, hòa 6g đường phèn vào uống. Nước thứ hai đun sôi trong 10 phút, chắt nước pha nốt 6g đường phèn vào uống. Liệu trình 10 ngày (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

3- Chữa ho gà (bách nhật khái): Dùng toàn cây rau cần 500g, rửa sạch, vắt lấy nước cốt, thêm vài hạt muối vào, hấp cách thủy, chia 2 phần uống vào sáng sớm và buổi tối; liên tục trong nhiều ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).

4- Chữa ho do lao phổi: Rễ rau cần 30, rửa sạch, thái nhỏ, trộn với mật hoặc đường đỏ, xào chín, ăn, ngày 2-3 lần (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

5 - Chữa cao huyết áp, tinh thần hưng phấn, đầu trướng đau, mặt đỏ bừng: Rau cần tươi 250 g, rửa sạch, chần nước sôi khoảng 2 phút, thái nhỏ, giã nát vắt lấy nước, mỗi lần uống 1 chén con, ngày 2 lần. Có tác dụng làm hạ huyết áp và giải trừ trạng thái căng thẳng, khó chịu. Nếu không có rau cần tươi, có thể dùng 30-60g rau cần khô (có thể thêm 12g khổ qua - mướp đắng) sắc uống. Cách chế rau cần khô: Rau cầu tươi chần qua nước sôi, phơi trong bóng mát cho khô, cất đi dùng dần (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

6- Chữa phản vị ẩu thổ - ăn vào nôn ngược trở ra: Rễ rau cần tươi 30g, cam thảo 15g, thêm nước vào đun sôi khoảng 10 phút, chắt lấy nước, đập 1 qủa trứng gà vào, ăn trứng và uống nước (Tố thực phổ hòa trung thảo dược phương).

7- Chữa viêm gan mạn tính: Rau cần tươi 200g, rửa sạch, giã, vắt lấy nước cốt, thêm 50g mật ong vào trộn đều, uống ngày 2 lần; liên tục trong nhiều ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam).

8- Chữa đái tháo đường: Rau cần tươi 60 g, gạo tẻ 70 ~ 100 g. Cách dùng: Rau cần rửa sạch, thái nhỏ, cùng gạo cho vào nồi, đổ khoảng 600 ml nước nấu thành cháo; ngày ăn 2 lần vào buổi sáng và buổi tối. Ăn khi cháo còn nóng, không nên để lâu. Cháo này công dụng bổ thận, thanh nhiệt, lợi tiểu, bình can nhưng tác dụng chậm - phải dùng lâu mới kiến hiệu (Thực dưỡng bổ ích bí dược lương phương).

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

NHỮNG BÀI THUỐC CHỮA NÁM DA

Nám và sạm da thường xuất hiện khi người phụ nữ bước vào độ tuổi 30. Tuy không ảnh hưởng đến sức khoẻ, nhưng sạm da ảnh hưởng đến thẩm mỹ và tâm lý của chị em.

Theo y học cổ truyền, những người có da mặt sạm, nám đen thường mệt mỏi, uể oải, đầu nặng, buồn ngủ, lưng đau. Mạch trầm, sác. Nguyên nhân do thận âm hư rồi dẫn đến thận dương cũng hư. Thận thủy bị tướng hỏa phản khắc, ức chế, dần dần gây nám da. Dưới đây là một số bài thuốc uống có thể giúp cải thiện, ngăn ngừa nám và sạm da.

Rau má
Bài 1: Thục địa (chưng rượu) 20g, hoài sơn (sao vàng) 16g, táo nhục (bỏ hạt) 12g, bạch phục linh 8g, mẫu đơn bì (sao thơm) 12g, trạch tả (ngâm nước muối 2 giờ, sao khô) 8g, thiên hoa phấn 12g, hạ khô thảo 8g, gừng tươi 8g, câu kỷ tử 12g, cúc hoa 8g. Cho các vị thuốc vào nồi, đổ 600ml nước sắc còn 150ml. Sắc 2 lần, hòa chung 2 nước, uống 2 lần trong ngày sau bữa ăn 2 giờ. Uống 10 - 15 thang, nghỉ 7 ngày lại uống tiếp đợt 2. Phụ nữ đang có kinh nguyệt và thai nghén không được uống. Sau khi sinh 2 tháng mới uống.
Hoài sơn chữa nám da.

Bài 2: “Bát tiên trường thọ”: thục địa 16g, hoài sơn 8g, táo nhục 8g, đơn bì 6g, trạch tả 6g, phục linh 6g, mạch môn 8g, ngũ vị tử 8g, ngưu tất 10g, xa tiền tử 8g, ba kích 8g, phá cố chỉ 8g. Sắc uống như bài trên.

Bài 3: A giao 12g, xuyên khung (sao rượu) 8g, bạch thược (sao rượu) 12g, bạch phục linh 12g, đương quy 12g, quảng bì (sao thơm) 8g, sinh địa 12g, huỳnh kỳ 8g, thăng ma 8g, chích thảo 6g, bắc sài hồ (tẩm rượu sao thơm) 8g, gừng sống 8g. Sắc uống như bài trên. Bài này chỉ dùng cho phụ nữ đã có con mà da mặt đen sạm.

Bài 4: Thục địa 12g, phục linh 10g, đơn bì 8g, trạch tả 6g, sơn thù 6g, hoài sơn 8g, mạch môn 6g, tang bạch bì 8g. Sắc uống như bài trên.

Bài 5: Í́ch mẫu thảo 30g, tang ký sinh 30g, trứng gà 4 quả, đường phèn vừa đủ. Trứng luộc, bóc vỏ cho vào nồi nấu với ích mẫu, tang ký sinh. Đổ nước vừa đủ, đun nhỏ lửa trong 30 phút rồi cho đường phèn vào quấy tan; vớt bỏ ích mẫu, tang ký sinh. Ăn trứng uống nước ngày 1 thang. Tác dụng: bổ gan, dưỡng huyết, hoạt huyết, trị mặt sạm đen, trứng cá.

Bài 6: Thiên hoa phấn 16g giã nhỏ, cho nước sôi vào hầm một lúc rồi lọc kỹ, uống liền 4 - 5 ngày.

Bài 7: Rau má 40g, câu kỷ tử 40g, quế tâm 4g. Tất cả phơi khô, tán bột uống liên tục trong 1 - 2 tháng. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa canh.

BÀI THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH LOÃNG XƯƠNG

Loãng xương là bệnh lý diễn biến thầm lặng. Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Đông y Việt nam cho biết, “thận chủ cốt”. Tỳ vị là nguồn để cung cấp tinh chất, khí huyết cho cơ thể.

Sơn thù
Do ăn uống thất thường, thiếu dinh dưỡng, chân tay và toàn thân ít vận động. Tỳ vị bị tổn hại, nhiệm vụ lớn lao của nó không hoàn thành được. Tinh huyết thiếu hụt làm cho xương khô tủy kém mà sinh ra bệnh.

Đông y chia ra các thể lâm sàng như sau:

Loãng xương thể thận dương hư

Biểu hiện lưng đau gối mỏi, cơ thể yếu mệt, chân tay không có lực, lạnh lưng và lạnh chân tay, liệt dương, đầu choáng mắt hoa, tiểu đêm nhiều lần, phân lỏng... Phép trị: ôn bổ thận dương, cường kiện gân cốt.

Dùng bài thuốc: Ngưu tất 16g, nam tục đoạn 16g, ngũ gia bì 16g, cẩu tích 12g, tang ký sinh 12g, tần giao 12g, đỗ trọng 10g, quế 6g, kiện 10g, thục địa (sao khô) 12g, dâm dương hoắc 10g, đại táo 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Loãng xương thể thận âm suy tổn

Biểu hiện mắt hoa, lưng gối đau mỏi, vận động chậm chạp, ù tai, mắt kém, triều nhiệt, tâm phiền, đại tiện táo kết, răng đau, tóc rụng, lợi sưng, tinh thần mệt mỏi. Phép trị: tư bổ thận âm, dưỡng tinh tủy.

Dùng bài thuốc: Hoài sơn 10g, sơn thù 12g, đan bì 10g, trạch tả 12g, bạch linh 10g, thục địa 12g, quy bản (sao) 12g, đương quy 12g, đỗ trọng 10g, khởi tử 12g, đại táo 10g, hắc táo nhân 16g, viễn chí 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Loãng xương thể tỳ hư

Biểu hiện cơ thể gầy xanh, chân tay yếu mềm, ăn ngủ kém, hay bị lạnh bụng, phân lỏng, mình mẩy nặng nề, ngại vận động, chất lưỡi nhợt, mạch trầm tế.

Dùng bài thuốc: bạch truật 12g, sơn tra 10g, thần khúc 12g, bán hạ 10g, hậu phác 12g, cao lương khương 10g, sa nhân 10g, lá lốt 12g, phòng sâm 12g, bạch linh 10g, chích thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.

Gia giảm: - Nếu đau đầu mất ngủ, gia hắc táo nhân 12g, viễn chí 12g; Hay sôi bụng, phân lỏng, gia: quế 8g, sinh khương 6g; Đau nhức các khớp, gia: đỗ trọng 12g, tục đoạn 12g; Ho hen mắc đờm, gia: cát cánh 12g, tía tô 16g, sinh khương 6g.

Loãng xương thể huyết ứ

Biểu hiện đau nhức các khớp, cơ thể mỏi mệt, da sạm, chất lưỡi tía, có thể có những điểm xuất huyết. Đau mình mẩy...

Phép trị: hoạt huyết, hóa ứ, tán kết, giảm đau. Dùng bài thuốc: xuyên khung 12g, hoàng kỳ 16g, hồng hoa 10g, tô mộc 20g, ngải diệp 10g, huyết đằng 12g, tục đoạn 12g, phòng sâm 12g, bạch truật 12g, xa tiền 12g, uất kim 10g, hương phụ tử chế 12g, trần bì 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

TRỊ ĐAU MẮT DO DỊ ỨNG BẰNG BÀI THUỐC TỐT

Mùa xuân, khí hậu ẩm ướt, mưa phùn, thời tiết cũng dần ấm lên là điều kiện thuận lợi cho các loại nấm mốc, vi khuẩn, virut sinh sôi, phát triển, cây cối đâm chồi nảy lộc, nở hoa. Phấn hoa lại là nguyên nhân gây nhiều bệnh dị ứng, trong đó có các bệnh về mắt . Xin giới thiệu cách điều trị đau mắt do dị ứng.
Mỗi ngày nên nhỏ mắt vài lần

Thuốc xông, đắp
Khi có hiện tượng viêm mi mắt, mắt ngứa, chảy nước, mắt bị sung huyết gây sưng đỏ nên sử dụng một số dược liệu chứa tinh dầu để xông hơi, như dùng bạc hà, phần trên mặt đất của cây bạc hà 50g, cúc hoa (cúc trắng hoặc cúc vàng đều được) khoảng 16g (bạc hà và cúc hoa tươi hay khô đều được); lá đại bi, lá cúc tần mỗi vị 50g; lá dâu tằm 50g. Tất cả cho vào nồi, đổ 300ml nước, đun sôi 5 - 10 phút, sau đó hơ nhẹ lên mắt bằng cách hướng luồng hơi vào nơi mắt đau. Cũng có thể dùng lá trầu không 20g hoặc lá dâu tằm, hoặc phối hợp hai thứ lá đó với nhau. Sau khi xông hơi gạn lấy nước lá xông lúc còn ấm, dùng khăn rửa nhẹ lên mắt. Ngày làm từ 1 - 2 lần.

Trường hợp mắt sưng đỏ, đau nhức nhiều có thể dùng các lá tươi sau, đắp lên mi mắt: phần trên mặt đất của cây rau má, lá rau muống, rửa sạch bằng nước muối loãng, giã nát, gói vào miếng vải gạc sạch, rồi đặt lên mi mắt, thấy khô, nóng lại lật bên kia. Cũng làm tương tự như vậy với lá cây dành dành, song với lá dành dành thì sau khi rửa sạch lại vò mạnh để lấy dịch đông như thạch, gói vào miếng giấy bản, rồi đặt lên nơi mắt bị sưng đau.

Thuốc uống trong

Khi mắt bị ngứa, đỏ dùng cúc hoa vàng, bạc hà, kinh giới, hạ khô thảo, tân di, cốc tinh thảo, lượng bằng nhau 6 - 8g, sắc hoặc hãm uống hằng ngày 2 - 3 lần vào lúc sau bữa ăn khoảng 1,5 - 2 giờ. Uống nhiều ngày đến khi các triệu chứng thuyên giảm.

Cũng có thể dùng cúc hoa, bạch tật lê mỗi vị 9g; phòng phong 5g để trị đau mắt do phong nhiệt.

Khi đau mắt kèm theo khô mắt, hoa mắt: dùng cúc hoa vàng, mẫu đơn bì, phục linh, trạch tả mỗi vị 12g; sơn thù du, hoài sơn mỗi vị 16g; thục địa 32g, sắc uống ngày 1 thang, uống liền 3 tuần lễ; hoặc làm hoàn với mật ong, uống ngày 2- 3 lần, mỗi lần 12 - 16g, sau bữa ăn khoảng 1,5 - 2 giờ.

Nếu mắt sưng đau, đỏ kèm theo có màng mộng, thị lực giảm: dùng thạch quyết minh, cúc hoa, cốc tinh thảo, mật mông hoa dưới dạng thuốc hãm hoặc sắc uống, ngày một thang, uống liền 3 - 4 tuần lễ.

Trường hợp mắt sưng đỏ kèm đau đầu, ù tai dùng cúc hoa, thạch quyết minh, sinh địa, bạch thược mỗi vị 15g; long đởm thảo 5g, sắc uống ngày một thang, uống liền 3 - 4 tuần lễ đến khi các triệu chứng thuyên giảm.

Với phương châm “phòng bệnh là chính”, cần dùng khăn sạch rửa mắt, không dùng chung khăn mặt, chậu rửa mặt. Hằng ngày nên nhỏ mắt vài lần bằng nước muối sinh lý natriclorua 0,9%, nếu mắt bị ngứa nhiều thì nhỏ cloroxit 0,4%. Bệnh nặng cần đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt.

TRÀ XANH GIÚP CHO NÃO ĐỐI PHÓ VỚI CÁC RỐI LOẠN VỀ GIẤC NGỦ

Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Đông y Việt nam cho biết, trà xanh có thể giúp ngăn chặn những hệ quả về nhận thức ở người bị chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA).

Trà xanh
Các polyphenol có ở trong trà xanh (GTP) có tác dụng chống stress oxy hoá ảnh hưởng tới mô não ở những vùng chi phối trí nhớ và học tập của những người bị OSA.

Kết luận này dựa trên thí nghiệm cho chuột uống nước có pha GTP. Chuột bị đặt ở tình trạng đói oxy ngắt quãng trong chu kỳ 12 tiếng “ban đêm”, tương tự tình trạng giảm oxy huyết ngắt quãng (IH) ở người bị OSA. Chuột uống nước trà xanh thực hiện tốt hơn bài tập mê cung so với chuột uống nước thường.

OSA ngày càng được thừa nhận là một tình trạng sức khoẻ nghiêm trọng và thường gặp với những biến chứng lâu dài bao gồm giảm khả năng học tập và tâm lý.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

QUẢ CÀ CHUA TỐT CHO SỨC KHỎE

Mặc dù có nguồn gốc từ Châu Mỹ song hiện nay cà chua đã là loại quả được sử dụng nhiều nhất trên thế giới. Từ hai thế kỷ nay, trung bình mỗi người Pháp ăn tới 20kg cà chua mỗi năm. Vậy ăn nhiều cà chua là tốt hay xấu?Theo thông tin của trung tâm nghiên cứu và ứng dụng đông y việt nam mọi người sẽ biết những vấn đề thời sự hiện nay về loại quả này.
Nên ăn nhiều cà chua để giảm nguy cơ ung thư phổi và dạ dày
Tác dụng phòng chữa bệnh:

Cà chua giúp chống cảm nắng

Trên Tập san dinh dưỡng, tiễn sĩ Wilhelm Stahl và cộng tác viên đã chứng minh: Con người có thể làm giảm 40% cường độ cảm nắng nếu ăn mỗi ngày 40g nước xốt cà chua tức là 16mg hoạt chất lycopen kèm theo dầu ôliu trong 10 tuần.

Tuy việc bảo vệ da chưa cao (đạt chỉ số bảo vệ số 3) nhưng lại có lợi hơn các loại kem bôi da vì cà chua có tác dụng trên toàn bộ da của cơ thể. Nên sử dụng cà chua kết hợp với các tác nhân khác (quần áo, kem chống nắng).

Cà chua có tác dụng phòng ngừa nhồi máu động mạch (Infartus)?

Cũng trên Tập san dinh dưỡng (F. Nutr), nhà khoa học Sesso H nhận xét: Trên 40.000 phụ nữ ăn mỗi tuần ít nhất hai lần bánh pizza sẽ giảm được 30% nguy cơ bị nhồi máu động mạch vì trong loại thức ăn này có nhiều hoạt chất lycopen kèm theo dầu oliu.

Về thực nghiệm, hoạt chất lycopen trong cà chua bảo vệ cholesterol khỏi bị oxy hóa, nó còn làm cho máu ở dạng lỏng dễ lưu thông. Cà chua có trong thức ăn pizza còn ngăn cản tác dụng tiêu cực của các axit béo no và bột mì trắng. Pizza là một loại thức ăn của vùng Địa Trung Hải, nó làm giảm tỷ lệ bệnh tim mạch ở cư dân vùng này.

Trong cà chua có chất độc không?

Theo nhà khoa học Serge Aubert, cà chua có chứa một số alcaloid có độc tính và các saponin nhưng ở liều thấp nên lại có tác dụng tốt (diệt khuẩn và ngừa cholesterol ở mức cao). Cà chua xanh thường có chất độc ở mức cao hơn để bảo vệ cây cà chua chống vi khuẩn nấm và côn trùng.

Cư dân miền Địa Trung Hải thích ăn cà chua nửa chín, nửa xanh nên họ thích ứng được với alcaloid và saponin ở liều thấp.

Nên ăn cà chua sống hay chín?

Edward Giovannucci - nhà dịch tễ học trường Đại học Y Harvard (Boston, Hoa Kỳ) tiến hành nghiên cứu trên 48.000 đàn ông và nhận thấy những người ăn nhiều cà chua giảm được nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt từ 20 – 35%.

GS. Canada Mahyar Etminan đã kết luận: Muốn phòng ngừa ung thư tuyến tiền liệt nên ăn cà chua chín vì giảm được 20% nguy cơ đó, nếu ăn cà chua sống thì nguy cơ chỉ giảm được 10%.

Edward Giovannucci chỉ rõ: Tác dụng chống ung thư nói trên là lycopen, chất này dễ hấp thu hơn nếu cà chua được nấu chín. Theo ông: “Những người ăn nhiều cà chua còn giảm được tới 40% nguy cơ ung thư phổi và dạ dầy”.

Nên trở lại thói quen trồng cà chua theo mùa


Các nhà nghiên cứu Serge Aubert và Henri Laterrot ở Viện Nghiên cứu INRA cho biết: Các loại cà chua hiện đại là loại F1 vì sản xuất được nhiều, lại tránh được bệnh tật, cần ít ánh sáng nên trồng được cả mùa đông trong nhà kính. Người ta cố gắng cải tiến sự trình bày và bảo quản cà chua loại này nhưng tính cảm quan không giữ được. Khoa học nông nghiệp ở Réhovot (Israel) đã thành công trong việc lai tạo ra cây cà chua đột biến không bao giờ chín. Nếu lai giống cà chua này với giống cà chua bình thường, quả cà chua chín chậm, mềm hơn thì thời gian bảo quản được lâu hơn. Nhược điểm của cà chua là mùi thơm và mầu bị ảnh hưởng do sự tổng hợp carotenoid bị chậm hay không hoàn toàn.

Từ 17 năm nay, Viện INRA cũng đã nghiên cứu, lai tạo, lưu ý đến mùi vị, quả to, chống được bệnh tật song phải 2 – 3 năm nữa loại quả này mới được bán trên thị trường và sẽ đa dạng về hình dáng, kích thước, mầu…

CHỮA BỆNH BẰNG THUỐC NAM

Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Đông y Việt nam xin giới thiệu một số món ăn bổ Tỳ, bổ Phế, bổ Thận rất hiệu quả mà chúng ta cần biết.Những món ăn này rất tốt cho sức khỏe.
Nấm mèo và chân gà hầm với bún tẩu ăn rất bổ cho tỳ âm
MÓN ĂN BỔ TỲ

Theo Đông y, tỳ và vị (dạ dày) có liên hệ biểu lý rất mật thiết với nhau.Tỳ tốt ắt vị cũng được thư thái, giúp cho chúng ta ăn ngon, ngủ khoẻ, rất bổ cho thể tạng.

-Gồm: Bạch truật 20g, Hoài sơn 20g, hạt Sen 20g, Ý dĩ 10g, đem hấp vào nồi cơm hoặc hấp cách thuỷ mà dùng, bổ cho tỳ.

- Chân gà, Nấm mèo hầm với bún tẩu ăn, rất bổ cho tỳ âm.

MÓN ĂN BỔ PHẾ

- Phổi heo 1 bộ, vị thuốc Cát cánh 20g và Từ uyển 5g. Phổi heo ninh nhừ rồi cho hai vị thuốc trên vào nấu tiếp, khi cạn cho thêm một bát con nước đun một lúc nữa rồi bắc xuống,nên uống lúc còn nóng, uống làm nhiều lần trong ngày, đại bổ cho phổi, chữa ho ở các cụ già rất hiệu nghiệm.

MÓN ĂN BỔ THẬN


- Dái dê hay bò 1 bộ, Hột gà 3 cái. Dái dê hay bò giã thật nhỏ trộn đều với Hột gà, tra mắm muối vừa đủ rồi chưng cách thuỷ mà ăn, đại bổ cho thận.

- Dái dê 1 bộ rửa sạch, Hành cọng giã nát, cho thêm ít hồ tiêu, mì chính, trộn đều, ướp một vài giờ, cho vào kẹp nướng chín trên than củi hồng. Trét thêm bơ hoặc Mật ong nướng cho vàng, ăn rất ngon và bổ cho tạng thận.

- Cật dê một cặp (dê rừng càng tốt, kể cả Cật heo và Cật bò cũng được), Đỗ trọng bắc 8g, Ngưu tất 8g, Câu kỷ tử 8g, Dâm dương hoắc 4g, gia vị vừa đủ, đem chưng cách thuỷ cho nhừ mà ăn. Một tháng có thể dùng vài bộ, công hiệu bổ thận như thần dược.

- Gà ác lông một con (mổ dao tre cho hay), Phòng đẳng sâm, Câu kỷ tử, Hắc kỳ, lượng bằng nhau, mỗi vị 12g, chưng cho nhừ, thêm chút rượu, Gừng, ăn đại bổ cho thận, cường dương tráng khí.

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

CÂY CHÀM MÈO-VỊ THUỐC QUÝ TRONG DÂN GIAN

Chàm mèo là cây thuốc quý của đồng bào dân tộc vùng cao vì lá chàm để lên men và ngâm nước vôi sẽ cho màu xanh lam (tên dân dã là màu chàm) dùng để nhuộm vải và quần áo, đặc trưng cho y phục của người dân ở đây. Và cũng từ lá, bột chàm được chiết xuất và sử dụng làm thuốc chữa bệnh phổ biến.

Chàm mèo
Chàm mèo (strobilanthe cusia (nees.) O.Kuntze) thuộc họ ô rô (Acanthaceae), tên khác là chàm nhuộm, chàm lá to, đại lam, mã lam, người Tày gọi là mạy ót, tên Thái là co sơm, tên Dao là tần gàm, là một cây nhỏ sống lâu năm, cao 0,4-0,8m. Thân nhẵn, phình lên ở các mấu. Lá mọc đối, hình bầu dục hay hình trứng, dài 8-25cm, rộng 3,5-11cm, gốc thuôn, đầu nhọn mép, khía răng tròn. Cụm hoa mọc ở kẽ lá, thành bông, lá bắc dạng lá, lá đài mảnh, tràng hoa hình trụ hơi cong, phía trên loe ra xẻ 5 cánh, màu lam tím hay tím hồng, nhị 4, 2 dài, 2 ngắn, bầu nhẵn. Quả nang hẹp dài.

Bộ phận dùng làm thuốc của chàm mèo là lá, thu hái vào mùa hè – thu, dùng tươi hoặc phơi sấy khô. Dược liệu chứa 0,4-1,3% indican khi thủy phân sẽ cho indoxyl. Chất này bị ôxy hóa sẽ chuyển thành indigotin, một tinh thể hình kim màu xanh lam.

SÂM TỐ NỮ:THẦN DƯỢC GIÚP TĂNG TRƯỞNG VÒNG 1 Ở PHỤ NỮ

Sâm tố nữ hay còn gọi là Sắn dây củ tròn (tên khoa học: Pueraria mirifica), được biết đến từ lâu với khả năng hồi xuân đặc biệt ở nữ giới và chỉ được tìm thấy phần lớn ở những vùng cao phía bắc Thái Lan, Mi-an-ma.

Sắn dây củ tròn
Ở Thái Lan, Sâm tố nữ (Pueraria mirifica) đã được sử dụng từ rất lâu với mục đích làm thuốc bổ và làm đẹp cho phụ nữ. Từ năm 2000, các nhà khoa học Thái Lan, Nhật Bản, Anh Quốc đã tiến hành nghiên cứu các hoạt tính sinh học của chiết xuất từ củ Sâm tố nữ dưới dạng cao và xác định cao Sâm tố nữ có chứa các phyto-estrogen quý có tác dụng tương tự nội tiết tố nữ estrogen: kích thích sự phát triển của các tuyến ngực và mô ngực do đó giúp ngực nở và săn chắc tự nhiên, chống lão hóa mạnh như kích thích mọc tóc, chống bạc tóc sớm, giúp da căng mịn, giảm nếp nhăn và tàn nhang; giúp vóc dáng eo thon, giảm nguy cơ béo phì và ung thư…

Các phyto-estrogen đó là các Isoflavon như genistin, daizein…Đặc biệt là chất miroestrol và deoxymiroestriol, những chất này chỉ được tìm thấy duy nhất ở Sâm tố nữ. Các nhà khoa học cũng chứng minh được đây là hai chất có hoạt tính estrogen mạnh gấp 100 lần so với các phyto-estrogen từ đậu tương (isoflavon) và mạnh nhất trong các loài thực vật. Mặc dù đã có nhiều báo cáo cho thấy các loài Sắn dây khác cùng họ với Sắn dây củ tròn (Sâm tố nữ) cũng có Isoflavon, nhưng những giống cây này có hình thái sinh vật khác và không có các đặc tính tốt như những nghiên cứu đã tìm thấy ở loài Pueraria có xuất xứ từ Thái Lan.

Trong một thử nghiệm lâm sàng được thực hiện tại Thái Lan và Anh Quốc, đã xác định được tỷ lệ phụ nữ sử dụng bột chiết xuất từ củ Sâm tố nữ (liều 800mg/ngày trong 2 tháng) có hiệu quả làm nở ngực là 82% và săn chắc ngực là 88%.

Các nhà khoa học cũng so sánh hoạt tính làm nở ngực của Sâm tố nữ với một số loại thực vật khác như mầm Đậu tương, Cát căn, Cọ lùn Saw palmetto, Hồ lô ba Fenugreek, Đương quy, Rong pacific, Damiana, Wild yam, hoa Houblon, Cỏ linh lăng… Kết quả cho thấy cao chiết xuất từ củ cây Sâm tố nữ có hoạt tính cao hơn và hiệu quả hơn cả.

Các thử nghiệm cũng chứng minh được việc sử dụng Pueraria mirifica trên người là rất an toàn với liều lượng cũng như thời gian hợp lý. Bởi vậy, hiện nay cây này được nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam sử dụng phổ biến với mục đích làm nở và săn chắc ngực tự nhiên cho nữ giới, đặc biệt là những chị em có ngực nhỏ, phụ nữ sau sinh và cho con bú …

CÂY SA KÊ CHỮA BỆNH VIÊM GAN , VÀNG DA

Cây sa kê có tên khoa học là Artocarpus altilis, thuộc họ dâu tằm (Moraceae), đây là loại cây được trồng nhiều ở miền Tây Nam bộ. Nhiều bạn đọc hỏi về việc dùng cây sa kê trị bệnh. Theo hướng dẫn của lương y Phạm Như Tá, các bộ phận như trái, rễ, lá, vỏ và cả nhựa của cây sa kê đều có nhiều dược tính, nên được y học, dân gian dùng làm các bài thuốc trị bệnh. Theo Đông y, thịt của quả sa kê có tác dụng bổ tỳ, ích khí. Còn hạt sa kê thì có tác dụng bổ trung ích khí, lợi trung tiện. Vỏ cây có tác dụng sát trùng. Còn lá sa kê có tác dụng kháng sinh, tiêu viêm lợi tiểu. Nhưng lưu ý, người không có bệnh thì không nên tự ý dùng lá sa kê nấu uống thường xuyên.

Sa kê
Một số cách áp dụng

Theo lương y Phạm Như Tá, lá sa kê thường được đốt thành than, tán mịn, phối hợp với dầu dừa và nghệ tươi, giã nát, làm thành bánh để đắp chữa mụn rộp. Hoặc dùng lá sa kê và lá đu đủ tươi, lượng bằng nhau, giã với chút vôi (vôi ăn trầu) cho đến khi có màu vàng dùng để đắp chữa sưng háng, mụn nhọt, áp xe.
Những người bệnh gout hay bị sỏi thận có thể lấy lá sa kê (loại lá đã già, còn tươi) độ 100g, quả dưa leo 100g, cỏ xước khô 50g. Cho cả 3 loại vào nồi nấu lấy nước dùng.

- Những người bị viêm gan vàng da, có thể dùng lá sa kê còn tươi chừng 100g, diệp hạ châu tươi 50g, củ móp gai tươi 50g, cỏ mực khô 20-50g. Tất cả đem nấu chung để lấy nước dùng trong ngày.

- Những người bị bệnh đái tháo đường (tiểu đường) dạng 2 có thể dùng lá sa kê (loại lá đã già) chừng 100 gr, quả đậu bắp tươi 100g, lá ổi non 50g. Tất cả đem nấu chung để lấy nước uống. Có thể uống thường xuyên.

- Khi bị đau răng, để chữa cơn đau tạm thời trước khi đến khám ở nha sĩ, có thể lấy rễ cây sa kê đem nấu nước ngậm và súc miệng.

Những người bị tình trạng tăng huyết áp dao động có thể dùng lá sa kê vàng (lá vừa rụng), lấy 2-3 lá, rau bồ ngót tươi 50g, lá chè xanh tươi 20g, đem tất cả nấu chung lấy nước uống trong ngày.

TÁC DỤNG CHỮA BỆNH CỦA CÂY GỪNG GIÓ

Cây gừng gió có tên khoa học Zingber zerumbert sin – Zinbiberaceae, họ gừng. Các tên gọi khác như: gừng rừng, ngải mặt trời…

Gừng gió còn có tên gọi khác là gừng rừng
- Người cao tuổi bị cảm do mắc mưa: 50gr lá gừng gió tươi, 50gr lá khuynh diệp, 10gr vỏ quít phơi khô sắc trong 1.000ml nước. Sau khi sôi 10 phút, xông đổ mồ hôi, lấy xác chà xát khắp thân mình (ngực, lưng), lau khô, đắp chăn ấm. Nghỉ dưỡng 20 phút.

- Phụ nữ sau hộ sản bị rong kinh bất thường, lấy 10gr củ gừng, 5gr lá khoai mỡ, 10gr hoa khoai mỡ, sắc trong 3 chén nước còn nửa chén. Uống 2 lần/ngày, liên tục 3 ngày.

- Phụ nữ sau sinh ăn không ngon miệng: 50gr ngọn bí đỏ, 50gr cà chua chín (bỏ hột), 5gr củ gừng gió, 50gr thịt cá hồng (bỏ xương), 1/3 muỗng bột nêm, ¼ muỗng đường cát, 5gr củ hành tây hoặc đầu hành lá. Nấu với 500ml nước còn 300ml, chia làm 2 phần ăn trưa và chiều. Ăn cách nhật.

- Nam giới trung niên bị mỡ trong máu, ngừa biến chứng ung bướu: 20gr củ gừng gió, xắt sợi, 10gr lá gừng gió xắt nhuyễn, táo tàu khô 10 quả, 30gr nấm mộc nhĩ đen, 30gr nấm bào ngư, rùa đen 300-500gr (rùa sống thả vào nước để bài tiết hết phân, nước tiểu, vớt ra, lột bỏ mai, cạo sạch da, tỉa móng nhọn). Nấu tất cả trong 1 lít nước còn 500ml. Chia làm 5 phần, ăn trong ngày. Cách 3 ngày ăn 1 lần, liên tục 10 lần.

- 50gr củ gừng gió, 20gr lá ngải cứu, cả hai xắt nhuyễn thành sợi, 50gr gạo lức rang vừa vàng sẫm, 2 củ hành 20gr, 15gr hành lá xắt nhỏ, 200-350gr lươn (bỏ vào giấm cho tiết nhớt, mổ bỏ ruột, chỉ máu, không bỏ đuôi) nêm gia vị, nấu trong 800ml nước còn 300ml. Chia làm 2 phần (ăn trưa, chiều), cách 2 ngày/lần, liên tục 15 lần để trị dứt suy thận, xuất tinh nhanh và đau nhức cột sống, khớp chậu. Có thể dùng cho phụ nữ tiền mãn kinh hay bị đau bụng, nhức mỏi tứ chi và nửa đầu.

- Trẻ, già ăn khó tiêu, buồn nôn do ngộ độc thức ăn: 30-50gr gừng gió giã nhuyễn, 30gr bầu non và 1 quả chanh muối, cho vào 200ml nước, đun sôi 15 phút, vớt bỏ bã, uống nước cách nhau 5 phút sẽ tiêu hóa tốt, ợ, đánh rắm, thông tiểu tốt. Nằm nghỉ 10 phút.

CÂY MỘC HƯƠNG:CHỮA BỆNH VỀ ĐƯỜNG TIÊU HÓA

Mộc hương là cây thảo sống lâu năm, rễ mập. Thân hình trụ rỗng, cao 1,5 – 2m. Vỏ ngoài màu nâu nhạt. Lá mọc so le, phiến chia thùy không đều ở cuống, dài 12 – 30cm, mép khía răng, có lông ở cả hai mặt nhất là ở mặt dưới cuống lá dài 20 – 30cm. Các lá ở trên thân nhỏ dần và cuống cũng ngắn dần, lá trên ngọn hầu như không cuống; hầu như ôm lấy thân. Cụm hoa hình đầu, màu lam tím. Quả bế hơi dẹt, màu nâu nhạt lẫn những đốm màu tím.

Cây mộc hương
Cây được nhập trồng và thích nghi với một số vùng cao của nước ta như Sapa, Tam Đảo, Đà Lạt và vùng phụ cận. Trồng một năm thì thu hoạch, có thể qua năm vào tháng 1, 2 khi cây bắt đầu tàn lá, thân khô và lụi dần. Đào bằng cuốc để tránh gãy nát, cắt bỏ phần mấu thân, lấy củ rửa sạch, phơi hay sấy khô .

Mộc hương có vị cay, đắng, tính ấm; có tác dụng hành khí chỉ thống, kiện tỳ tiêu tích; nói chung nó có tác dụng làm tan ứ trệ, hòa tỳ vị, đuổi phong tả, tả khí hỏa, phát hãn, giải cơ biểu. Còn có tác dụng lý khí, dùng để hành khí giảm đau, kiện tỳ, chỉ tả. Loại nướng có tác dụng hòa hoãn hành khí, trợ sức cho đại tràng, chỉ tả lỵ.

Thường dùng trị mọi chứng đau, trúng khí độc bất tỉnh, tiểu tiện bế tắc, đau bụng, khó tiêu, trướng đầy, gây trung tiện, ngừng nôn mửa, tiết tả đi lỵ.

Những bài thuốc đã được ứng dụng

- Chữa đi lỵ mạn tính : Mộc hương, hoàng liên bằng nhau, tán bột làm viên, mỗi lần uống 0,2 – 0,5g, uống ngày 2 – 3 lần.

- Chữa tiêu chảy trẻ em do tích trệ thức ăn: Mộc hương, bạch truật, mạch nha, chỉ thực, hoàng liên, sơn tra, trần bì, thần khúc, mỗi vị 12g; liên kiều, sa nhân, la bạc tử mỗi vị 8g. Tán nhỏ làm viên. Ngày uống 4 – 8g.


- Chữa lỵ cấp tính: Mộc hương 8g, hoàng liên 20g, khổ sâm, bạch thược mỗi vị 12g, chỉ xác 8g, cam thảo 4g. Tán bột làm viên hoàn. Ngày uống 10 – 20g;

- Chữa viêm đại tràng mạn tính thể co thắt, rối loạn tiêu hóa kéo dài: Mộc hương 6g, bạch truật, hoài sơn, ý dĩ, phòng đẳng sâm mỗi vị 12g, phụ tử chế 8g, can khương, chỉ thực, thương truật mỗi vị 6g, xuyên tiêu, nhục quế mỗi vị 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Sau 5 thang cần khám lại.

- Chữa viêm đại tràng mạn tính do amip co cơ tái phát cấp diễn: Mộc hương, bạch truật, phòng đẳng sâm, Ý dĩ mỗi vị 12g, hoàng bá, hoàng liên, uất kim, xuyên khung mỗi vị 8g, chỉ thực 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Liệu trình 5 – 10 thang.

- Chữa viêm loét dạ dày tá tràng: Mộc hương 6g, đương quy, bạch thược, phục linh, kỷ tử, đại táo mỗi vị 12g; xuyên khung 10g; a giao, táo nhân mỗi vị 8g; ngũ vị tử, trần bì mỗi vị 6g, gừng 2g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 5- 10 thang.


Các bài thuốc trên khi sử dụng cần được bắt mạch kê đơn tại các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền có giấy phép hành nghề. Tùy theo thực trạng của bệnh nhân mà thầy thuốc cho liệu trình điều trị .

HOA THIÊN LÝ CHỮA TRĨ HIỆU QUẢ

Thiên lý là một loại cây rất thân thuộc với người dân Việt Nam, là một cây thuốc quý không chỉ cho ta bóng mát hương thơm, là món ăn khá phổ biến trong các gia đình Việt Nam mà còn được dùng làm thuốc chữa bệnh trĩ và sa dạ con hiệu nghiệm.

Hoa thiên lý

Thiên lý (còn gọi là câu hoa lý, hoa thiên lý, dạ lài hương) là một loại cây nhỏ, mọc leo, thân hơi có lông, nhất là ở những bộ phận còn non. Lá hình tim, thuôn, đầu lá nhọn, có lông trên các gân lá. Hoa khá to, nhiều, màu vàng xanh lục nhạt, rất thơm, thành xim tán, có cuống to, hơi có lông, dài 10-20mm, mang nhiều tán mọc mau liền với nhau.

Cây Thiên lý được trồng khắp nơi ở Việt Nam, nhiều nhất tại miền Bắc để làm cảnh và lấy hoa, lá nấu canh ăn. Trong lá và thân Thiên lý có chất ancaloid (Đỗ Tất Lợi, Ngô Văn Thu, Hà Nội, 1962). Trong cuộc sống hằng ngày, người ta thường chỉ dùng hoa và lá Thiên lý non để nấu canh ăn cho mát và bổ. Lá tươi của cây Thiên lý chữa bệnh trĩ (lòi dom) rất công hiệu. Thầy thuốc đã chữa cho nhiều người khỏi bệnh, kể cả những người bị trĩ cấp độ 3 có búi trĩ lòi hẳn ra ngoài. Bài thuốc này đặc biệt công hiệu cho những người bị trĩ do nội nhiệt, do uống rượu bia nhiều dẫn đến đi ngoài có máu, rát hậu môn.

Cách chữa trị như sau: Lá Thiên lý 100g (một nắm to), muối ăn 5g (thìa cà-phê). Hái lá Thiên lý non và lá bánh tẻ, rửa sạch, giã nhỏ với muối, thêm chừng 30ml nước đun sôi còn ấm, lọc qua vải gạc. Dùng nước này tẩm vào bông đắp lên chỗ dom đã rửa sạch bằng thuốc tím. Băng như đóng khố. Ngày làm một, hai lần. Kết hợp với uống 3 đến 4 bát nước lá Thiên lý tươi một ngày. Trong vòng 3 – 4 ngày thường khỏi. Bài thuốc này còn có thể chữa bệnh dạ con: cũng dùng như trên. Thường lưu ý: bắt buộc phải dùng tươi, không được nấu chín. Với những người cơ thể hàn thì không được uống mà chỉ đắp bên ngoài.