Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

ĂN GẠO LỨT CHỮA BỆNH

Nếu thiếu sinh tố B1, chúng ta sẽ bị một căn bệnh gọi là "béribéri". Căn bệnh này được phát hiện lần đầu ở Ấn Độ, "béribéri" trong tiếng Ấn có nghĩa là "yếu", sau này người ta mới biết căn bệnh "yếu" đó là do thiếu sinh tố B1.

>>>Y học và hoa cúc tần
>>>Liên hương thảo:Vị thuốc an thần
>>>Ăn táo có lợi cho gan

Gạo lứt
Triệu chứng của căn bệnh là phù (da bủng), tê tứ chi, rủn gối (mất phản xạ gân xương), đi đứng khó khăn; nguy hiểm nhất là cơ tim bị phù nề, mất trương lực và bệnh nhân chết trong tình trạng suy tim. Trước đây, nhất là trước 1945, rất nhiều người ở nước ta mắc căn bệnh này, đặc biệt là công nhân ở các đồn điền cao su, hầm mỏ và trong các nhà tù. Khi bị bệnh, người ta tự chữa bằng cách ăn cám gạo (trong cám có chứa sinh tố B1), còn các thầy thuốc thì dùng sinh tố B1, hiệu quả rất nhanh.

Ngày nay, tuy cuộc sống khá hơn, nhưng một số người vẫn mắc chứng bệnh này và việc ăn "gạo lứt muối mè" trở thành trào lưu chữa bệnh. Ăn gạo lứt thường xuyên giúp cơ thể dẻo dai, gân cốt cứng cáp, hoạt bát, đỡ đau nhức xương khớp. Ở những người bị thừa cân (béo phì), nếu dùng gạo lứt lâu dài sẽ giảm cân và cũng gián tiếp tránh được bệnh tiểu đường (týp II).

Cách nấu và ăn cơm gạo lứt như sau: Trước khi nấu nên ngâm gạo bằng nước ấm, để hạt gạo ngấm đủ nước (trong vòng 20-30 phút), không nên vò xát mạnh (vì sẽ làm mất đi lớp màng), mà chỉ nên "rửa" gạo bằng cách gạn đi gạn lại cho sạch bụi. Khi nấu đổ nước vừa đủ, khi sôi cho lửa nhỏ, đậy vung thật kín, làm như vậy hạt cơm sẽ mềm và sinh tố B1 ít bị phân hủy. Khi ăn phải nhai kỹ và nhuyễn, nếu không sự tiêu hóa sẽ không trọn vẹn.

Nhai kỹ và nhuyễn có những lợi ích sau: Cơm được nghiền nát và được các men tiêu hóa có trong nước bọt làm cho tinh bột chuyển hóa thành đường (glucose) ngay từ trong miệng (nên khi nhai kỹ ta có cảm giác ngòn ngọt ở miệng, đó chính là do tinh bột đã chuyển thành glucose); Khi thức ăn xuống dạ dày và ruột sẽ được tiêu hóa tốt hơn, triệt để hơn và sẽ tránh cho dạ dày bị viêm loét. Đối với người thừa cân, việc nhai kỹ, ăn chậm sẽ giúp tăng cảm giác no (tức sẽ ăn ít hơn), và dần dần sẽ giảm được cân.

HOA MÀO GÀ TRỊ BÁCH BỆNH

Mào gà đỏ có tên khác là kê quan hoa, kê công hoa, kê cốt tử hoa, mồng gà, lão lai thiểu... Theo y học cổ truyền, hoa mào gà đỏ vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, trừ thấp, lương huyết, chỉ huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như xích bạch lỵ (bệnh lỵ trực khuẩn hoặc amip), trĩ lậu hạ huyết (trĩ xuất huyết), thổ huyết (nôn ra máu), khạc huyết (ho ra máu), tỵ nục (chảy máu mũi), huyết lâm (đái buốt và ra máu), băng lậu (rong huyết, rong kinh, băng huyết), đới hạ (khí hư), di tinh, đái dưỡng chấp...

>>>Trị đái dầm ở trẻ
>>>Những lợi ích sức khỏe của sô cô la đen
>>>Thận dê:Vị thuốc của quý ông
Hoa mào gà đỏ
Tăng huyết áp: Kê quan hoa 3-4 cái, hồng táo 10 quả, sắc uống hằng ngày.

Thổ huyết: Kê quan hoa (dùng cả cây) lượng vừa đủ, sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng tươi 15-24 g (loại khô dùng 6-15 g) hầm với phổi lợn lượng vừa đủ trong 1 giờ rồi chia ăn vài ba lần trong ngày.

Ho ra máu: Hoa mào gà trắng 30 g, trắc bá diệp 30 g, cỏ nhọ nồi 30 g, sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà tươi 24 g, rễ cỏ tranh tươi 30 g, sắc uống.

Lỵ trực khuẩn hoặc amip: Dùng hoa mào gà sắc với rượu uống; nếu là xích lỵ (phân có máu) dùng hoa màu đỏ, bạch lỵ (phân chỉ có nhày) dùng hoa màu trắng.

Thoát giang hạ huyết (lòi dom chảy máu): Kê quan hoa và phòng phong lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, vê thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống 70 viên với nước cơm khi đói. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng sao 30 g, tông lư thán 30 g, khương hoạt 30 g, tán thành bột uống mỗi lần 6 g với nước cơm.

Tiểu buốt và ra máu: Hoa mào gà trắng đốt tồn tính, mỗi ngày uống 15-20 g với nước cơm hoặc dùng hoa mào gà 15 g sắc uống.

Di tinh: Hoa mào gà trắng 30 g, kim ti thảo 15 g, kim anh tử 15 g, sắc uống.

Nhọt độc vùng gáy: Hoa mào gà tươi, nhất điểm hồng tươi và liên tử thảo tươi lượng bằng nhau, rửa sạch giã nát, chế thêm một chút đường đỏ rồi đắp vào tổn thương.

TRỊ ĐÁI DẦM Ở TRẺ

Chứng đái dầm là một chứng bệnh thông thường của trẻ em. Khoảng từ 15-20% trẻ em từ 5 tuổi trở xuống mắc chứng bệnh này. Vậy làm cách nào để cải thiện được tình trạng trẻ đái dầm? 

>>>Dưa lê có tác dụng chữa bệnh tuyệt vời
>>>Cây rau sam trị bệnh
>>>Ăn táo có lợi cho gan
Đái dầm ở trẻ nhỏ
Chứng đái dầm là gì?


Lương y Nguyễn Hồng Ánh cho biết, trẻ em thường ngủ mà đi tiểu không hay thì gọi là đái dầm.

- Đái dầm loại 1: Khoảng 15-20% trẻ em nam 5 tuổi, nữ 6 tuổi đái dầm thường xuyên.

- Đái dầm loại 2: Nếu trẻ từ 6-12 tuổi có lúc đái dầm, có lúc không đái dầm (có khi 6 tháng không đái dầm).

Ngoài ra, có khoảng 2-5% trẻ lớn rồi vẫn đái dầm, thậm chí ở tuổi vị thành niên mà vẫn đái dầm.

Nguyên nhân gây chứng đái dầm ở trẻ em

Theo Lương y Nguyễn Hồng Ánh, có một số nguyên nhân có thể gây chứng đái dầm ở trẻ em:

- Di truyền: nếu chỉ có bố hoặc mẹ có tiền sử tè dầm thì tỷ lệ con bị là 44%, nếu cả cha và mẹ đều từng bị tè dầm thì tỷ lệ con bị là 77%.

- Rối loạn giấc ngủ: Khó thức dậy từ giấc ngủ sâu dù khi ấy bàng quang căng đầy nước tiểu.

- Chậm phát triển hệ thần kinh trung ương làm giảm khả năng kiểm soát nín tiểu của bàng quang khi trẻ ngủ.

- Nội tết: Không đủ hormon bài niệu ADH (hormon này có tác dụng làm giảm số lượng bài tiết nước tiểu từ thận).

- Nhiễm trùng tiết niệu.

- Dị dạng đường tiết niệu: Bất thường van niệu quản ở trẻ trai hoặc bất thường niệu đạo ở trẻ gái. Bàng quang nhỏ hơn bình thường làm giảm khả năng giữ được nước tiểu lâu trong bàng quang.

- Bất thường cột sống.

- Tâm lý: Một số trẻ đái dầm do có lo âu sau sang chấn tâm lý ở nhà hoặc ở trường.

- Do gia đình ít luyện tập cho trẻ đi tiểu trước khi ngủ .

NHỮNG LỢI ÍCH SỨC KHỎE CỦA SÔCÔLA ĐEN

Sôcôla đen gần đây được phát hiện 1 số lợi ích cho sức khỏe. Trong khi ăn sôcôla đen có thể dẫn đến 1 số lợi ích dưới đây, nên nhớ rằng sôcôla có hàm lượng chất béo cao.

>>>Thận dê:Vị thuốc của quý ông
>>>Y học và hoa cúc tần
>>>Liên hương thảo:Vị thuốc an thần

Sô cô la
- Sôcôla đen tốt cho tim mạch

Theo nghiên cứu cho thấy ăn 1 lượng nhỏ sôcôla đen 2 hay 3 lần mỗi tuần có thể giúp hạ huyết áp của bạn. Sôcôla đen cải thiện lưu lượng máu và có thể giúp ngăn chặn sự hình thành máu cục. Ăn sôcôla đen còn có thể ngăn chặn xơ cứng động mạch.

Sôcôla đen tăng cường lưu lượng máu lên não cũng như với tim, nên nó có thể giúp tăng cường chức năng nhận thức. Sôcôla đen còn giúp giảm rủi ro đột quỵ.

Sôcôla đen còn chứa 1 số hợp chất hóa học có tác động tích cực đến tâm trạng và sức khỏe của bạn. Sôcôla chứa phenylethylamine (PEA), cùng 1 chất hóa học ở trong não bạn tạo ra khi bạn cảm thấy như mình đang yêu. PEA thúc não bạn giải phóng endorphins, vậy nên ăn sôcôla đen sẽ làm bạn cảm thấy hạnh phúc hơn.

Sôcôla đen còn chứa cafein, 1 chất kích thích nhẹ. Tuy nhiên, sôcôla đen chứa ít cafein hơn cà phê. 1,5 aoxơ của 1 thanh sôcôla đen chứa 27 mg cafein, so sánh với 200 mg được tìm thấy trong 8 aoxơ của 1 cốc cà phê.

- Sôcôla đen giúp kiểm soát đường huyết

Sôcôla đen có thể giúp giữ cho mạch máu của bạn được khỏe mạnh và sự lưu thông của bạn vẫn nguyên vẹn để bảo vệ chống lại bệnh đái tháo đường loại 2. Chất flavonoids trong sôcôla đen còn giúp giảm sức đề kháng insulin bằng cách giúp các tế bào của bạn hoạt động bình thường và lấy lại khả năng sử dụng insulin của cơ thể một cách hiệu quả. Sôcôla đen cũng có chỉ số glycemic thấp, nghĩa là nó sẽ không gây đột biến lớn trong mức độ đường trong máu.

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

THẬN DÊ:VỊ THUỐC CỦA QUÝ ÔNG

Dương thận vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ thận khí, ích tinh tủy, thường được dùng để chữa các chứng thận lao hư tổn, lưng đau gối mỏi, tai ù, tai điếc, liệt dương, di hoạt tinh, yếu sinh lý, đi tiểu đêm nhiều lần... 

>>>Quả cà chua tốt cho sức khỏe
>>>Cây chàm mèo:Vị thuốc quý trong dân gian
>>>Cây rau sam trị bệnh
Thận dê
Dương thận thường được sử dụng dưới dạng kết hợp với một số thực phẩm hay dược liệu để chế biến thành những món ăn - bài thuốc hấp dẫn vừa có công dụng bổ dưỡng lại vừa có tác dụng phòng chống bệnh tật.

Dưới đây, xin giới thiệu một số công thức điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng.

Bài 1: Dương nội thận 1 quả, thịt dê 60g, lá Kỷ tử 250g (có thể thay bằng Kỷ tử 100g), Gạo tẻ 60 - 90g, Hành củ và gia vị vừa đủ. Dương thận rửa sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; thịt dê rửa sạch, thái quân cờ; sắc kỹ Kỷ tử rồi bỏ bã lấy nước, cho Thận và Thịt dê vào ninh nhừ với Gạo thành cháo, nêm gia vị vừa đủ, chia ăn vài lần trong ngày.

Công dụng: Bổ thận âm, ích thận khí, tráng nguyên dương, dùng trị các chứng lưng đau gối mỏi, tai ù, di niệu do thận hư, nam giới liệt dương, suy giảm khả năng tình dục.

Bài 2: Dương nội thận (tinh hoàn) 1 quả, Nhục thung dung 30g. Dương thận rửa sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; Nhục thung dung tẩm rượu một đêm rồi thái lát, đem hầm cùng với dương thận, khi chín chế thêm gia vị, ăn nóng.

Công dụng: Bổ thận tráng dương, nhuận tràng thông tiện, dùng cho những người bị liệt dương, yếu sinh lý, táo bón do mệnh môn hỏa suy.

Bài 3: Dương ngoại thận 1 đôi, nước hầm xương lợn 1 bát, tủy lợn một đoạn, gia vị vừa đủ. Dương ngoại thận rửa sạch, thái miếng; đun nước hầm xương lợn cùng với gia vị và tủy lợn trong 15 phút, sau đó cho dương ngoại thận vào đun thêm chừng 3 phút là được, múc ra bát, ăn nóng.

Công dụng: Ích tinh, trợ dương, bổ thận, được dùng để chữa các chứng muộn con, liệt dương, xuất tinh sớm, di tinh, đau lưng mỏi gối, suy giảm ham muốn tình dục, suy nhược cơ thể...

Bài 4: Dương nội thận 1 đôi, Nhục thung dung 25g, Thảo quả 5g, Trần bì 5g, Mỡ dê 100g, gia vị vừa đủ. Thận dê làm sạch, bổ đôi, bỏ màng trắng, thái miếng; mỡ dê thái miếng; sắc kỹ các vị thuốc rồi bỏ bã lấy nước, đem hầm với thận và mỡ dê, khi chín chế thêm gia vị, ăn nóng.

Công dụng: Bổ thận tráng dương, ôn trung kiện tỳ, nhuận tràng thông tiện, được dùng để chữa các chứng liệt dương, di hoạt tinh, đau lưng mỏi gối, tay chân lạnh, táo bón do thận dương hư.

Bài 5: Dương ngoại thận 1 đôi, Nhung hươu 3g, Rượu trắng 500ml. Dương ngoại thận tươi (lấy từ dê núi là tốt nhất), rửa sạch huyết rồi đem ngâm cùng Nhung hươu với Rượu trắng chừng 15 ngày là được, mỗi ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần từ 10 - 20ml, kiêng hành, gừng, tỏi và hạt tiêu.

Công dụng: Bổ thận tráng dương, ích tinh dưỡng huyết, dùng để chữa chứng liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục, tinh dịch lạnh loãng, suy giảm số lượng và chất lượng tinh trùng...

Bài 6: Dương nội thận 1 quả, Bạch tật lê sao qua 120g, Long nhãn 120g, Dâm dương hoắc 120g, Tỏa dương 120g, Ý dĩ 120g. Tất cả đem ngâm với rượu trắng chừng 15 ngày, mỗi ngày uống 20ml.

Công dụng: Ôn thận tráng dương, ích tinh bổ tủy, khu phong trừ thấp, dùng trị các chứng liệt dương, di mộng tinh, tinh lạnh, lưng đau gối mỏi, tai ù tai điếc ở người già do thận hư.

Theo quan niệm của Y học cổ truyền, một trong những chức năng quan trọng của tạng thận là chủ về sinh dục. Dê lại là một trong những loài động vật có khả năng hoạt động sinh dục mạnh mẽ và bền bỉ, bởi vậy, quả thận và tinh hoàn của dê đã được người xưa sử dụng làm thức ăn và làm thuốc để chữa trị các chứng bệnh thuộc hệ sinh dục từ rất sớm. Đây là một trong những ví dụ điển hình của việc áp dụng học thuyết “dĩ tạng bổ tạng”, “dĩ tạng liệu tạng” (lấy tạng để bồi bổ và chữa bệnh của tạng) trong Y học cổ truyền.

Y HỌC VÀ HOA CÚC TẦN

Cây nhỏ cao 2-3m, cành gầy; lá gần giống hình bầu dục, hơi nhọn đầu, gốc thuôn dài, mép lá có răng cưa, mặt dưới có lông mịn, phiến dài 4-5cm, rộng 1-2,5cm. Toàn cây (lá, cành, rễ) đều có thể dùng làm thuốc. Lá thường dùng tươi (hái lá non và lá bánh tẻ) thu hái quanh năm, cành và rễ thường dùng khô, làm thuốc.

>>>Hoa thiên lý chữa trĩ hiệu quả
>>>Vị thuốc quý:Nấm kim châm
>>>Tác dụng chữa bệnh của cây gừng gió

Hoa cúc tần
Trong toàn cây chủ yếu có tinh dầu mùi thơm đặc trưng. Theo y học cổ truyền: cúc tần có vị đắng, cay, thơm, tính ấm. Chủ trị cảm sốt ho, bụng trướng, nôn oẹ, tiêu độc, tiêu đờm, bí tiểu tiện, phong thấp, đau mỏi lưng. Dùng dưới dạng thuốc sắc (ngày uống 10-20g) hay thuốc xông. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Chữa nhức đầu cảm sốt: Lá cúc tần tươi 2 phần, lá sả một phần, lá chanh một phần (mỗi phần khoảng 8-10g) đem sắc với nước, uống khi còn nóng. Cho thêm nước vào phần bã đun sôi, dùng để xông.

Cũng có nơi nhân dân dùng lá cúc tần phối hợp với lá bàng (có tính mát) và lá hương nhu, sắc uống có công dụng chữa cảm sốt.

Chữa đau mỏi lưng: Lấy lá cúc tần và cành non đem giã nát, thêm ít rượu sao nóng lên, đắp vào nơi đau ở hai bên thận.

Chữa chấn thương, bầm giập: Lấy lá cúc tần giã nát nhuyễn đắp vào chỗ chấn thương sẽ mau lành.

LIÊN HƯƠNG THẢO:VỊ THUỐC AN THẦN

Lá mọc thẳng từ gốc, hình tim, dài 3-6cm, rộng 2,5-4cm, cuống lá dài có bẹ và có lông; các lá ở gốc có phiến to hơn. Cụm hoa mọc thẳng đứng ở giữa túm lá thành xim phân đôi trên một cán dài 20-40cm; lá bắc hẹp; hoa nhỏ màu trắng, đài có 5 răng nhỏ, tràng 5 cánh hợp thành ống hẹp, nhị rất dài vượt ra ngoài tràng. Quả bế dẹt, có đài tồn tại.

>>>Cây rau sam tri bệnh
>>>Dưa lê có tác dụng chữa bệnh tuyệt vời
>>>Ngải cứu là bài thuốc,món ngon chữa nhiều bệnh

Liên hương thảo

Cây mọc hoang chỉ thấy phân bố ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai (Sapa, Bát Xát, Bắc Hà), Nghệ An (Mường Lống), Hà Giang (Đồng Văn, Mèo Vạc). Độ cao phân bố từ 1.300-1.600m. Bộ phận dùng làm thuốc của liên hương thảo là cả cây, nhất là rễ, chứa tinh dầu thơm (mùi này chỉ xuất hiện khi cây chuyển từ tươi sang khô) và những ester đặc biệt có tác dụng gọi là valepotriat. Hoạt chất này có hàm lượng cao nhất trong liên hương thảo so với nhiều loài khác cùng chi trên thế giới.

Theo kinh nghiệm dân gian, rễ liên hương thảo, thu hái quanh năm, phơi hoặc sấy khô, được dùng chữa đau dạ dày do co thắt, sốt cao co giật, nhức đầu, đau khớp, thủy thũng, kinh nguyệt không đều, đòn ngã tổn thương, mụn nhọt và làm thuốc an thần chống lo âu, phiền muộn, bồn chồn, hay hoảng hốt. Khi dùng, lấy 10g dược liệu thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày. Hoặc tán dược liệu, rây thành bột mịn, uống mỗi ngày 1-4g với nước ấm. Có thể ngâm dược liệu với cồn 60o với tỷ lệ 1/5 trong nhiều ngày, rồi uống mỗi ngày 2-10g hoặc nấu thành cao mềm, mỗi ngày dùng 1-4g.

Để chữa mất ngủ, tim hồi hộp, lấy liên hương thảo 9g phối hợp với lá tai chuột 9g, hà thủ ô 30g, lá thông 30g, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Dùng ngoài, rễ liên hương thảo tươi giã nát, chữa vết thương phần mềm và mụn nhọt.